Bài tập về công thưc tiền tệ luy thang mpqv

1 Nguồn gốc và bản chất tiền tệ 1.1 Nguồn gốc xuất hiện: Theo Mác, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và các hình thái giá trị. Quá trình phát triển của các hình thái giá trị để đi đến hình thái giá trị diễn ra như sau:

Show
  • Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên: 1 tấm bò = 2 cái rìu Hình thái giá trị tương đối vật ngang giá chung Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.  Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất - bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)  Hình thái giá trị chung khi sự phân công lao động lần thứ 2, thủ công nghiệp tách rời khỏi nông nghiệp -> SX HH phát triển thì hình thức trao đổi trực tiếp bộc lộ những nhược điểm của nó , đòi hỏi phải có một loại hàng hoá đặc biệt giữ vai trò vật ngang giá chung của quá trình trao đổi Ví dụ: 10 kg thóc 2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định) 0,1 chỉ vàng  Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại (kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi là một HH đặc biệt.  Kết luận: Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi HH. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung. Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt. Khái niệm:  Khái niệm cũ: Tiền tệ là một HH đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung để đo giá trị của các HH khácền có thể thoã mãn được một số nhu cầu của người sở hữu nó tương ứng với số lượng giá trị mà người đó tích luỹ được

 Khái niệm mới: Tiền là tất cả những phương tiện có thể làm trung gian trao đổi được nhiều người thừa nhận  Tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đối lấy hàng hoá, dịch vụ hoặc trả các khoản nợ. Ngoài ra, còn có những vật thể khác giữ vai trò trung gian trao đổi như chi phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu,... mà các nhà kinh tế học vẫn không thống nhất với nhau có phải là tiền tệ hay không. Irving Fisher cho rằng chỉ có giấy bạc ngân hàng là tiền tệ, trong khi Conant Paul Warburg cho rằng chi phiếu cũng là tiền tệ. Samuelson lại cho rằng tiền là bất cứ cái gì mà nhờ nó người ta có thể mua được hầu hết mọi thứ. Theo Charles Rist thì cái thật quan trọng đối với nhà kinh tế không phải là sự thống nhất về một định nghĩa thế nào là tiền tệ mà phải biết và hiểu hiện tượng tiền tệ. 1.1 Bản chất của tiền tệ: Tiền tệ thực chất là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá dịch vụ, giúp quá trình trao đổi diễn ra dễ dàng hơn. Lúc đầu vật ngang giá chung là hàng hoá thông thường (bò, cừu, rìu) sau đó là hàng hoá mở rộng (kẽm, đồng, bạc) và cuối cùng là tiền tệ.

Hàng hoá thông thường Hàng hoá tiền tệ

  • Giá trị: đo lường hao phí lao động kết tinh trong hàng hoá thông qua giá cả
  • Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người
  • Giá trị: là thước đo đo lường giá trị của những hàng hoá khác.
  • Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn tất cả các nhu cầu của con người khi sở hữu một khối lượng tiền tệ nhất định

Bản Chức năng của tiền tệ  K/niệm 1 : Các nhà kinh tế học cho rằng tiền tệ có 3 chức năng gồm: phương tiện trao đổi, đơn vị tính toán, dự trữ giá trị.  K/niệm 2: Theo Mác khi vàng đựơc sử dụng làm tiền tệ thì tiền tệ gồm có 5 chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới 1.2 Thước đo giá trị : Giá trị của tiền được dùng làm phương tiện để so sánh với giá trị của hàng hoá hoặc dịch vụ, thông qua quan hệ này tiền đã thực hiện chức năng thước đo giá trị. - Khi thực hiện chức năng này thì: + Giá trị của tiền được coi là chuẩn mực (1 bên là tiền, 1 bên là hàng) + Tiền là thước đo hao phí lao động xã hội kết tinh trong một hàng hoá nào đó VD: 1 m vải gồm có đối tượng lao động (bỏ ra 1 giờ hay 2 hoặc người khác 3 giờ) và công cụ lao động (máy dệt, kim khâu, kéo..) - Các điều kiện để thực hiện các chức năng này:

  • Dự trữ giá trị bằng những phương tiện hiện thực chứ không phải bằng một lượng tiền “ tưởng tượng”
  • Giá trị dự trữ bằng những phương tiện được xã hội thừa nhận
  • Mang tính thời gian (theo yêu cầu của chủ sở hữu, trong tương lai gần có thể là dấu hiệu giá trị, tương lai xa hơn có thể là vàng, ngoại tệ) 1.2 Phương tiện thanh toán  Tiền được sử dụng làm công cụ thanh toán các khoản nợ về HH và DV trong mua bán trước đây  Tiền và hàng vận động độc lập tương đối với nhau về không gian và thời gian
  • Không gian: có thể mua bán ở chỗ này nhưng có thể thanh toán ở chỗ khác hoặc tại chỗ
  • Thời gian: có thể trả nợ trước hoặc sau khi mua (độc lập) hoặc là tiền trao cháo múc (đưa tiền liền – Không độc lập) Chức năng phương tiện thanh toán xuất hiện phát sinh quan hệ tín dụng (bán chịu). Do đó làm cho khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông tại một thời điểm nhất định cũng thay đổi: Trong thanh toán có thể dùng tiền mặt, chuyển khoản, bù trừ

1.2 Chức năng tiền tệ thể giới  Tiền tệ thế giới là phương tiện thanh toán và chi trả chung giữa các quốc gia  Khi thực hiện chức năng tiền tệ thế giới thì chỉ có tiền mặt và tiền có giá trị hoàn toàn nhưng phải đưa về dạng nén, thỏi để thực hiện việc thanh toán cuối cùng.  Còn trong thanh toán quốc tế thì người ta sử dụng ngoại tệ mạnh, ví dụ: USD, EUR, Yên, .. Phân chia theo cách thứ nhất như sau: 1. Chức năng phương tiện trao đổi Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ. Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác. Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao. Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức là người ta trước hết sẽ đổi hàng hoá của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hoá mình cần. Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc thưc hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người. Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:

Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông

\=

Tổng giá cả H 2 và dvụ

Giá cả H 2 bán chịu

Giá cả H 2 đến hạn thanh toán

Giá cả H 2 được t/h thanh toán bù trừ Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ

+

_ _

_- Được chấp nhận rộng rãi: nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hoá mới đồng ý đổi hàng hóa của mình lấy tiền;

  • Dễ nhận biết: con người phải nhận biết nó dễ dàng;
  • Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi chác giữa các hàng hoá có giá trị khác nhau;
  • Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hoá ở khoảng cách xa;
  • Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;
  • Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong trao đổi;
  • Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngang nhau._ 2. Chức năng đơn vị đánh giá. Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối kượng bằng kg, đo độ dài bằng m..ờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn. Nếu giá trị hàng hoá không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được định giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dàng cho việc đọc giá hàng hoá. Khi giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch. Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỉ lệ trao đổi được hình thành theo tập quán - tức là ngay từ khi mới ra đời, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá. Đầu tiên những phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hoá cũng có giá trị như các hàng hoá khác. Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hoá khác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các hàng hoá khác (Theo phân tích của Marx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị hàng hoá: giá trị hàng hoá được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung). Vì vậy trong thời đại ngày nay, mặc dù các phương tiện được sử dụng là tiền không còn có giá trị như các hàng hoá khác nhưng nó được mọi người chấp nhận trong lưu thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giá trị các hàng hoá. Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước. 3. Chức năng phương tiện dự trữ giá trị Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian. Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải.

*** Hệ thống tổ chức lưu thông tiền tệ**. Hệ thống tổ chức lưu thông tiền tệ là chế độ lưu thông tiền tệ theo luật định, trong đó các yếu tố của hệ thống này kết hợp với nhau thành một khối thống nhất. Tùy thuộc trình độ phát triển của phương thức sản xuất- xã hội, ở mỗi quốc gia chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ đều có những nét đặc thù. Tuy nhiên những yếu tố cơ bản của hệ thống tiền tệ đều có nội dung tương tự. Những nội dung đó là:

  • Kim loại tiền tệ: là thứ kim loại được xác định làm thước đo giá trị, nó tuỳ thuộc từng quốc gia (bạc - vàng)
  • Đơn vị tiền tệ: là tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền quốc gia và ký hiệu quốc tế của nó, được pháp luật thừa nhận.
  • Chế độ đúc tiền và lưu thông tiền đúc. Về nguyên tắc nhà nước độc quyền. Trong lưu thông có hai loại tiền đúc:
  • Tiền đủ giá (bạc, vàng)
  • Tiền kém giá (đồng, nhôm) *** Chế độ bản vị bạc:** Là chế độ lưu thông tiền trong đó bạc được sử dụng làm tiền tệ * Chế độ song bản vị: Là chế độ lưu thông tiền trong đó bạc và vàng được sử dụng làm tiền tệ. Chế độ này chia làm hai giai đoạn:
  • Chế độ bản vị song song: là chế độ song bản vị nhưng trong đó bạc và vàng lưu thông theo giá trị thực tế của chúng trên thị trường. Như vậy trong lưu thông có hai thước đo giá trị và dẫn đến có hai hệ thống giá cả. Thực tế này mâu thuẩn với chính chức năng thước đo giá trị của tiền
  • Chế độ bản vị kép: là chế độ song bản vị nhưng Nhà nước can thiệp vào bằng cách qui định tỷ giá giữa tiền vàng và tiền bạc thống nhất trong phạm vi cả nước. Mục đích của sự can thiệp này là để khắc phục tình trạng không ổn định trong lưu thông. Di giá trị của bạc trên thị trường ngày càg giảm trong khi đó giá trị của vàng không giảm làm cho mọi người luôn muốn giữ vàng . Kết quả trên lưu thông chỉ còn là tiền vàng *** Chế độ bản vị vàng:** Là chế đọ lưu thông tiền trong đó vàng được sử dụng làm tiền tệ. Chế độ này có những đặc điểm sau:
  • Tự do đúc tiền vàng
  • Tự do lưu thông
  • Được tự do luân chuyển giữa các quốc gia 1.4 Lưu thông dấu hiệu giá trị a. Bản chất , chức năng dấu hiệu của giá trị  Bản chất : Dấu hiệu của giá trị là những phương tiện thay thế cho vàng trong lưu thông, để thực hiện các trao đổi HH và DV. So với giá trị của hàng hoá thì dấu hiệu không có giá trị nội tại mà chỉ có giá trị danh nghĩa. Ví dụ: Mua 1 thẻ điện thoại Mobil phone trị giá 200 000 ngàn

đồng, dùng xong tức là đã nạp vào tài khoản điện thoại và bán lại 10 000. Lúc đó không ai mua cả vì nó không có giá trị nội tại.  Chức năng: + Phương tiện lưu thông + Dự trữ trong tương lai gần (dự trữ tạm thời) + Phương tiện thanh toán Các chức năng như thước đo giá trị, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới thì không thực hiện được b. Các loại dấu hiệu giá trị  Giấy bạc ngân hàng  Thương phiếu  Sec  Các phương tiện thanh toán và lưu thông hiện đại như tiền điện tử, card thông minh.. c. Ý nghĩa của lưu thông dấu hiệu giá trị  Ưu điểm:  Khắc phục được tình trạng thiếu phương tiện thanh toán trong lưu thông  Tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội  Nhược điểm:  Dễ xuất hiện dấu hiệu gía trị giả  Dễ gây ra lạm phát 1.4 Chế độ lưu thông tiền tệ ở Việt Nam a. Giấy bạc ngân hàng của Nhà nướcVN - Là dấu hiệu do ngân hàng NNVN độc quyền phát hành và lưu thông - Tiền đơn vị của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam là “ đồng”, ký hiệu quố gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là “ VNĐ” - Hiện nay trong lưu thông, giấy bạc ngân hàng Việt nam mang các mệnh giá: 100 đ, 200 đ, 500 đ, 1000 đ, 2000 đ, 5000 đ, 10 000 đ, 50 000 đ, 100 000 đ, 500 000 đ. Theo luật pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giấy bạc ngân hàng Việt Nam có quyền lực lưu thông trên toàn bộ lãnh thổ và được thanh toán không hạn chế với mọi khoản trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Mọi hành vi làm giả, phá hoại giấy bạc ngân hàng Việt Nam đều là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo luật pháp hiện hành b. Nguyên tắc phát hành giấy bạc ngân hàng Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan độc quyền phát hành giấy bạc vào lưu thông. Thực hiện nghiệp vụ phát hành giấy bạc, ngân hàng nhà nước phải chấp hành các nguyên tắc sau đây: - Phát hành giấy bạc ngân hàng thông qua đường tín dụng Nghiệp vụ này thực hiện bằng cách tái chiết khấu hoặc tái cầm cố các thương phiếu, chứng chỉ tiền gởi và các loại giấy tờ có giá khác.

  • Kế hoạch cung ứng tiền mặt cho lưu thông. Để đáp ứng đủ tiền mặt cho lưu thông, ngân hàng nhà nước cần phải tính đến các yếu tố sau:
  • Tổng mức hàng hóa và dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân cần phải sử dụng tiền mặt.
  • Tăng giảm lãi suất tiền gởi tiết kiệm.
  • Tâm lý giữ tiền mặt của dân cư.
  • Giao dịch bằng tiền mặt của cơ quan và DN.... Trên cơ sở tham khảo các yếu tố trên, ngân hàng nhà nước có kế hoạch cung ứng tiền mặt cho lưu thông phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Nhưng để tiết kiệm chi phí, hạn chế khối lượng tiền phát hành, ngân hàng nhà nước có thể áp dụng các biện pháp sau:
  • Qui định mức tồn quỹ tiền mặt đối với các cơ quan, doanh nghiệp trong những điều kiện cần thiết.
  • Kế hoạch tiền mặt của các đơn vị phải được coi là chỉ tiêu pháp lệnh, nếu chiều hướng lạm phát gia tăng.
  • Áp dụng các đòn bẫy kinh tế để thu hút tiền mặt từ lưu thông vào ngân hàng. Trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam chưa phát triển, tâm lý sử dụng tiền mặt còn khá nặng nề trong dân cư và các đơn vị. Điều này chỉ có thể được khắc phục khi nền kinh tế thị trường phát triển cao thì nhu cầu sử dụng tiền mặt sẽ giảm. Qui luật lưu thông tiền tệ: Nội dung của qui luật lưu thông tiền tệ : Tiền là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hoá , nó phục vụ cho sự vận động của hàng hoá. Lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ là hai mặt của quá trình thống nhất. Lưu thông tièn tệ xuất hiện dựa trên cơ sở của lưu thông hàng hoá. ở mỗi thời kỳ nhất định , lưu thông tiền tệ cũng đòi hỏi một lượng tiền nhất định Nội dung như sau: Số lượng tiền cần thiết để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tỷ lệ thuận với tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông và tỷ lệ nghịch với số vòng quay bình quân của đồng tiền cùng loại

Trong đó:

M: số lượng tiền cần thiết trong lưu thông P: giá cả hàng hoá, dịch vụ Q: khối lượng sản phẩm V: tốc độ chu chuyển bình quân/ số vòng quay của tiền

 P

M =

V

Số lượng tiền cần thiết thực hiện chức năng lưu thông =

Tổng giá cả HH và DịCH Vụ dựa vào lưu thông

Tốc độ lưu thông bình quân của tiền

Đây là qui luật kinh tế phổ biến và rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường 1.5 Cung - cầu tiền tệ 1.5.2 Các khối tiền trong lưu thông a. Khối lượng tiền tệ trong lưu thông (Money Supply - Ms) KLTTTLT – Ms: là chỉ tất cả các phương tiện được chấp nhận làm trung gian trao đổi với mọi HH và DV tại 1 thị trường nhất định, trong 1 khoảng thời gian nhất định. Người ta chia thành các khối sau:

  • M1: Là bộ phận có tính lõng cao nhất, bao gồm: giấy bạc ngân hàng, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, ngân phiếu, séc các loại, tiền gởi không kỳ hạn.
  • M2 : Bao gồm M1 và tiền gởi có kỳ hạn
  • M3 : Bao gồm M2 và thương phiếu, tín phiếu kho bạc,cổ phiếu và các loại trái khoán.
  • Khối L: b. Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Necessary Money -Mn)
  • Mn: là khối lượng tiền tệ do tổng nhu cầu của nền KT quốc dân trong 1 thời kỳ nhất định. Ví dụ: Trong năm 2004 nền Kinh tế Việt Nam cần bao nhiêu khối lượng tiền trong lưu thông
  • Mn phụ thuộc vào 2 yếu tố : Tổng giá cả HH và DV đưa vào lưu thông và tốc độ lưu thông bình quân của tiền. VD: Năm 2003, người ta tính tổng giá cả HH và DV đưa vào lưu thông là 100000 tỷ, vòng quay là 10 thì Mn là :100000/10=10000 tỷ.
  • Giữa Mn và Ms sẽ có một khỏang cách và khi người ta so sánh với nhau tại một thời điểm nào đó thì nó có thể xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau:
  • Ms/Mn = 1->Ms = Mn : đây là điều tuyệt vời vì tất cả các nước đều mong muốn nhưng thực tế điều đó không xảy ra.
  • Ms/Mn > 1 ->Ms > Mn: số lượng tiền trong lưu thông > số lượng tiền cần thiết trong lưu thông => thừa tiền => lạm phát
  • Ms/Mn < 1 -> Ms < Mn : số lượng tiền trong lưu thông < số lượng tiền cần thiết trong lưu thông => thiếu tiền => giảm phát. Nhưng trong thực tế không thể tính được tỷ lệ trên một cách chính xác. Do đó người ta chuyển hướng nó qua tín hiệu thị trường (như là HH thiết yếu, giá vàng, giá dầu, tỷ giá hối đoái...) để MS và Mn xích lại gần nhau hơn, và dó chính là công việc cần thiết của các nhà hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ. 1.5.2 Nhu cầu tiền trong lưu thông( Cầu tiền tệ ) a. Nhu cầu tiền cho giao dịch
  • Đối với doanh nghiệp họ cần tiền để phụcvụ cho quá trình sản xuất kinh doanh : mua nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, trả lương cho công nhân...
  • Đối với dân cưcần tiền nhằm thực hiện nhu cầu sống

Ms = M 3 + các phương tiện khác

 Cho khách hàng “thấu chi”bằng cách ghi “có “ trước và “ nợ” sau. Nó được áp dụng với điều kiện doanh nghiệp có uy tín hoặc là các cá nhân có sự bảo lãnh của các Cơ quan nhưng chỉ là con số tương đối.  Cho khách hàng phát hành lớn hơn số dư tiền gửi. VD: trong thanh toán bằng sec , theo nguyên tắc anh có 1 tỷ nhưng Ngân hàng có thể phát hành từ 10 – 100 tỷ vì công ty có uy tín c. Các phương tiện lưu thông được phát hành ra từ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng như thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu công ty  Tóm lại: có 4 tác nhân tham gia vào việc phát hành tìên cho lưu thông đó là NHTW, NH Thương mại, Các tác nhân gửi và các tác nhân cho vay trong đó NHTW giữ vai trò chủ đạo. Điều hoà lưu thông tiền tệ a. Mục đích:  Đảm bảo cân đối giữa tổng số tiền và tổng giá cả HH và DV trong lưu thông nghĩa là làm sao cho Ms ~ Mn  Đảm bảo cân đối giữa tiền mặt và các phương tiện thanh toán khác  Cân đối giữa các phương tiện lưu thông có mệnh giá khác nhau. Ví dụ: Nếu như NHTW chỉ phát hành tờ 10000 đồng, khi trao đổi thì nó cần nhiều các tờ đông tiền khác do đó cần in ra các tờ 5000 đồng, 2000 đồng, 1000 đồng.  Cân đối giữa các nguồn vốn trong nền KT tạo điều kiện SX và lưu thông HH phát triển  Ổn đinh lưu thông tiền tệ nhằm nâng cao sức mua của đồng tiền => nền KT quốc dân tăng trưởng ổn định b. Công cụ điều hoà:

  • Sử dụng lãi suất bao gồm:
  • Lãi suất tái chiết khấu: do ngân hàng Trung Ương thực hiện
  • Laĩ suất tiền gửi do NHTM thực hiện
  • Áp dụng dự trữ bắt buộc trên vốn khả dụng của NHTM
  • Sử dụng nghiệp vụ thị trường tự do: các ngân hàng TM và các tổ chức tín dụng tiến hành mua bán chứng khoán trên thị trường 1 Lạm phát và các biện pháp ổn định tiền tệ 1.6. Lạm phát: 1. 1 Khái niệm : Lạm phát (Inflation) là hiện tượng KT trong đó giấy bạc lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng liên tục bị mất giá, giá cả HH và DV không ngừng tăng lên 1.6.1 Phân loại các cấp độ lạm phát  Lạm phát vừa phải: giá cả tăng chậm < 10% => kích thích SX  Lạm phát phi mã: giá cả tăng đột biến khoảng từ 10 % -> 999 % => KT trì trệ  Siêu lạm phát :tốc độ tăng gấp nhiều lần lạm phát phi mã. Nó phá hoại hầu hết các quan hệ hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân 1.6.1 Nguyên nhân :  Do SX suy giảm => không có nguồn thu (thu NS không đủ chi) => Chính phủ phát hành tiền để chi

 Do chiến tranh, thiên tai đột biến (mà SX không có mà chiến tranh xảy ra thì phải chi nhiều cho quốc phòng, y tế, trợ cấp thất nghiệp => lạm phát)  Do khủng hoảng chính trị , lúc đó đồng tiền mất tín nhiệm 1.6 Các biện pháp ổn định thị trường trong nền KT 3  Biện pháp cấp bách:  Ngưng phát hành tiền trong lưu thông (tức là đóng băng tiền tệ ), muốn vậy thì NHTW phải ngừng cung ứng tiền cho lưu thông thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cầm cố các giấy tờ có giá.  Tăng lãi suất tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm.  Cắt giảm các khoản chi chưa cấp bách: trợ cấp, viện trợ  Bán vàng và ngoại tệ  Khuyến khích tự do mậu dịch (quá trình thương mại tự do lưu thông tức là HH đi ra nước ngoài và đi vào trong nước tự do), nới lỏng thuế quan nhằm làm cho khối lượng HH tăng lên  Vay và xin viện trợ từ bên ngoài  Cải cách tiền tệ (tức là bỏ đồng tiền cũ thay thế bằng đồng tiền mới, đây là biện pháp tình thế  Biện pháp chiến lược: nhằm đảm bảo cho nền KT có sức mạnh nội sinh (phòng bệnh)  Xây dựng kế hoạch tổng thể, phát triển SX và lưu thông HH trong nền Kt quốc dân  Tạo ngành SX HH mũi nhọn cho xuất khẩu, mặt hàng chiến lược phải có kim ngạch lớn trên thế giới > 100 tỷ USD,nhưng với Việt Nam chưa có mặt hàng hàng vượt trên 10 tỷ , chỉ có dầu khí 3 tỷ; thuỷ sản, gạo, may mặc, giày da, thủ công mỹ nghệ ~ 6 tỷ  Cải cách hành chính, giảm biên chế, kiện toàn bộ máy hành chính  Kiểm soát thường xuyên chính sách thu chi của NSNN

  • Cái gì thu chưa hết, chưa đủ => thu
  • Cái gì chi quá tay thì nên giảm
  • Nhà nước cần phải tạo môi trường cho Tài chính hoạt động, đó là sản xuất hàng hóa - tiền tệ.
  • Cần phải đặt đúng vị trí của Tài chính, lựa chọn những hình thức và phương pháp tạo lập và sử dụng một cách có hiệu quả để thúc đẩy kinh tế hàng hóa - tiền tệ phát triển. 2 Bản chất của Tài chính. Việc thông qua tiền tệ để tiến hành phân phối tổng sản phẩm xã hội của Tài chính đã làm cho nhiều người lầm tưởng Tài chính là tiền tệ. Trên bề mặt của hiện tượng xã hội, Tài chính được cảm nhận như những nguồn lực Tài chính, những quĩ tiền tệ khác nhau, đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế- xã hội và đã tạo ra hàng loạt các mối quan hệ qua lại dưới hình thức giá trị của các nguồn lực Tài chính đó. Nguồn lực Tài chính không chỉ bó hẹp ở dạng tiền tệ vận động qua hai kênh Ngân sách và Ngân hàng, mà nó còn bao gồm giá trị của cải xã hội, tài sản quốc gia, tổng sản phẩm quốc dân ở cả dạng vật chất và tiềm năng luân chuyển ở nhiều kênh khác nhau; chúng luôn vận động để tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ vào các mục đích gắn liền với các chủ thể kinh tế- xã hội. Bản chất của tài chính được xác định ở những mặt sau: 1, Sự vận động độc lập tương đối của các nguồn Tài chính để trực tiếp (hay thông qua thị trường) tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ như mặt trực quan của Tài chính. 2, Đằng sau mặt trực quan đó là các quan hệ kinh tế trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức phân phối các nguồn lực Tài chính. 3, Việc tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ là phương thức phân phối đặc thù để phân biệt phạm trù Tài chính với các phạm trù phân phối khác như giá cả, tiền lương,.... Nội dung kinh tế của tài chính được xác định như sau: Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quĩ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế- xã hội. Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực Tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quĩ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy hay tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội. Tài chính trong nền kinh tế thị trường cũng có thể hiểu là tổng thể những mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể Tài chính phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực Tài chính. 2 Chức năng của Tài chính. Chức năng của Tài chính là cụ thể hóa bản chất của Tài chính, là nhiệm vụ chủ yếu có thể thực hiện trong thực tiễn. Hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau khi bàn đến chức năng của Tài chính. Chức năng của một sự vật là khả năng thế năng bên trong, vốn có của sự vật đó. Nói đến chức năng của Tài chính là nói đến khả năng khách quan phát huy tác dụng của nó. Trong đời sống xã hội, Tài chính vốn có hai chức năng: chức năng phân phối và chức năng giám đốc. 2.3. Chức năng phân phối.

Chức năng phân phối của Tài chính là cái vốn có, nằm sẵn trong phạm trù Tài chính và biểu hiện bản chất của Tài chính. Chính nhờ chức năng này mà các nguồn lực Tài chính được đưa vào những mục đích sử dụng khác nhau, đảm bảo các nhu cầu khác nhau và những lợi ích khác nhau trong đời sống xã hội. Đối tượng phân phối của Tài chính là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể các nguồn lực Tài chính có trong xã hội. Chủ thể phân phối của tài chính bao gồm: Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, hộ gia đình và cá nhân dân cư. Kết quả phân phối của tài chính là tạo lập và sử dụng các qũi tiền tệ dành cho một mục đích nhất định (tích lũy hoặc tiêu dùng) ở các chủ thể trong xã hội. Chức năng phân phối của tài chính có những điểm sau: Thứ nhất , phân phối của tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không đi kèm theo sự thay đổi của hình thái giá trị. Thứ hai , phân phối của tài chính gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quĩ tiền tệ. Đây là đặc điểm chủ yếu, được coi là đặc trưng cơ bản của phân phối tài chính. Thứ ba , phân phối của tài chính trải qua hai quá trình: phân phối lần đâù và phân phối lại. Phân phối lần đầu được tiến hành trong lĩnh vực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ, nó được thực hiện trước hết và chủ yếu là ở khâu tài chính cơ sở trong hệ thống tài chính, nhằm hình thành các quĩ tiền tệ để:

  • Bù đắp chi phí vật chất đã tiêu hao( quĩ KHĐ và quĩ khôi phục vốn lưu động đã ứng ra)
  • Hình thành quĩ lương.
  • Hình thành quĩ bảo hiểm.
  • Thu nhập cho các chủ sở hữu về vốn, tài nguyên. Phân phối lại là nhằm tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản trong phân phối lần đầu ra phạm vi xã hội rộng hơn hoặc theo những chi tiết cụ thể hơn trong mục đích của các quĩ tiền tệ. Mục tiêu của phân phối lại là nhằm đảm bảo cho bộ phận phi sản xuất ra của cải vật chất tồn tại hoạt động và thực hiện công bằng xã hội. 2.3. Chức năng giám đốc Chức năng giám đốc là một thuộc tính khách quan vốn có của Tài chính, bắt nguồn từ bản chất của Tài chính. Đó là khả năng khách quan để sử dụng Tài chính làm công cụ để kiểm tra, giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trị và phương tiện thanh toán của tiền tệ.
  • Giám đốc của tài chính có thể diễn ra dưới dạng: Xem xét tính cần thiết, qui mô của việc phân phối các quĩ tiền tệ; kiểm tra và giám sát quá trình thực hiện; xem xét rủi ro và tư vấn.
  • Chức năng giám đốc của tài chính có những đặc điểm sau:

2.4. Hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị trường 2.4.2 Căn cứ vào quan hệ sở hữu các nguồn lực tài chính, hệ thống tài chính có hai bộ phận: - Tài chính Nhà nước - Tài chính phi Nhà nước Tài chính Nhà nước thuộc sở hữu nhà nước phục vụ sự hoạt động của bộ máy nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước. Tài chính nhà nước bao gồm: Ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước, tài chính các doanh nghiệp nhà nước, tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước, tài chính của các tổ chức tài chính trung gian thuộc sở hữu nhà nước ( như Ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán,...);Các quỹ tài chính nhà nước khác như: quỹ dự trữ quốc gia, một số quỹ thuộc ngân hàng trung ương ( quỹ dự trữ ngoại hối, quỹ điều hoà lưu thông tiền tệ, quỹ dự trữ bắt buộc,..); quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hổ trợ phát triển, quỹ quốc gia giải quyết việc làm, quỹ phủ xanh đất trống đồi trọc, quỹ bảo vệ môi trường,..., các quỹ này thường được gọi là các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước. Tài chính phi nhà nước thuộc sở hữu của khu vực không phải nhà nước phục vụ cho sự hoạt động của các chủ thể ở khu vực đó. Tài chính phi nhà nước gồm có: tài chính của các tổ chức xã hội và các quỹ có cùng tính chất; tài chính các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm thuộc sở hữu tư nhân; tài chính hộ gia đình. Trong điều kiện kinh tế thị trường, tài chính nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, đồng thời góp phần tạo hành lang, môi trường và điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, trong đó có khu vực phi nhà nước phát triển. b) Theo mục đích sử dụng các nguồn tài chính cho lợi ích công hay lợi ích tư, hệ thống tài chính được phân chia thành 2 loại: Tài chính công và tài chính tư. c) Theo phạm vi hoạt động của tài chính , lấy quốc gia là chủ thể, thì hệ thống tài chính được phân chia thành: Tài chính nội địa và tài chính quốc tế. d) Căn cứ vào đặc điểm hình thành, phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính gắn liền với các chủ thể trong nền kinh tế thì hệ thống tài chính có 5 khâu: - Tài chính nhà nước (NSNN) - Tài chính doanh nghiệp - Bảo hiểm - Tín dụng - Tài chính hộ gia đình và các tổ chức xã hội 3. Mối quan hệ và nhiệm vụ của các khâu tài chính cấu thành trong hệ thống tài chính.

Khoa Tài chính – Kế toán TÀI CHÍNH HỘ GIA ĐÌNH VÀ TỔ Trường Đại học Đông Á CHỨC XH

NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TÍN THỊ DỤNG TRƯỜNG TÀI CHÍNH

BẢO HIỂM

Nhiệm vụ của các khâu tài chính trong hệ thống tài chính: a. Ngân sách nhà nước: là khâu tài chính chủ đạo, có nhiệm vụ: - Động viên, tập trung các nguồn tài chính để tạo lập quỹ tiền tệ của nhà nước. Có thể được thực hiện dưới dạng bắt buộc hoặc tự nguyện từ các khâu tài chính khác; có thể trực tiếp từ các khâu tài chính khác hoặc gián tiếp thông qua thị trường tài chính. - Phân phối sử dung quỹ NSNN vào việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Việc sử dụng quỹ NSNN có thể làm tăng nguồn tài chính ở các khâu tài chính khác, cũng có thể đi vào sử dụng trực tiếp - Giám đốc kiểm tra các khâu tài chính khác. b. Tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là khâu tài chính cơ sở, có nhiệm vụ: - Đảm bảo vốn và phân phối vốn hợp lí cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Tổ chức chu chuyển vốn liên tục và có hiệu quả. - Phân phối thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp theo quy định của nhà nước. - Kiểm tra giám đốc quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. c. Tín dụng: Tín dụng là khâu tài chính trung gian có tính chất đặc biệt của sự vận động các nguồn tài chính có thời hạn. Tín dung là tụ điểm các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi, có nhiệm vụ: - Tạo lập quỹ cho vay theo nguyên tắc hoàn trả, có thời hạn và có bồi hoàn. - Phân phối quỹ này theo nhu cầu sản xuất kinh doanh cũng theo nguyên tắc hoàn trả, có thời hạn và có bồi hoàn. d. Bảo hiểm: Bảo hiểm cũng là khâu tài chính trung gian , có nhiệm vụ: -Huy động quỹ bảo hiểm bằng sự đóng góp của các chủ thể có tham gia bảo hiểm( dưói hình thức phí bảo hiểm)