Cách xác định vị trí chọc dò tủy sống

Bác sĩ sẽ hướng dẫn cho người bệnh về thực phẩm, đồ uống và các loại thuốc do người bệnh có thể được yêu cầu không ăn uống sau nửa đêm trước ngày làm thủ thuật. Nếu đang dùng thuốc làm loãng máu [thuốc chống đông máu] hay có dị ứng với bất kỳ loại thuốc nào [như thuốc gây tê], người bệnh cần báo cho bác sĩ.

Chọc dò tủy sống thường được thực hiện tại một cơ sở ngoại trú hoặc bệnh viện. Trước khi thực hiện, người bệnh được yêu cầu thay áo choàng bệnh nhân. Thông thường, người bệnh nằm nghiêng và co đầu gối lên ngang ngực hoặc ngồi và nghiêng về phía trước, tựa vào một mặt phẳng ổn định. Những vị trí này khiến phần lưng sau uốn cong, mở rộng khoảng cách giữa các đốt sống, giúp bác sĩ dễ dàng chèn kim hơn.

Người bệnh cần tránh cử động và nên báo cho bác sĩ nếu cần di chuyển vì lý do nào đó. Đối với trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, một người thân của trẻ sẽ giữ yên trẻ trong suốt quá trình thực hiện. Vùng lưng sẽ được sát khuẩn và phủ một tấm vô trùng.

Trong khi thực hiện

Thuốc gây tê cục bộ được tiêm vào phần lưng dưới của người bệnh để làm tê vị trí chọc dò ngay trước khi đưa kim vào. Một ống rỗng có kim mỏng được chích vào giữa hai đốt sống dưới [vùng thắt lưng], qua màng cột sống và vào ống sống. Người bệnh sẽ cảm nhận được một chút áp lực ở khu vực này.

Khi kim đã vào vị trí, bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh điều chỉnh tư thế một chút. Áp lực dịch não tủy sẽ được đo, bác sĩ cẩn trọng rút một lượng dịch tủy nhỏ và đo lại áp lực. Nếu cần thiết, bác sĩ sẽ tiến hành tiêm thuốc. Hoàn thành thủ thuật, kim được tháo ra và vị trí chọc dò sẽ được băng lại.

Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, bác sĩ có thể kết hợp siêu âm để dễ dàng thực hiện và bảo đảm an toàn cho bệnh nhi.

Sau khi thực hiện

Chọc dò tủy sống thường kéo dài khoảng 45 phút. Bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh nằm xuống sau khi làm xong thủ thuật.

Người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh thực hiện những hoạt động nặng nhọc. Người bệnh có thể tham khảo thêm ý kiến từ bác sĩ về mức độ hoạt động cần thiết. Ngoài ra, người bệnh có thể uống thuốc giảm đau không kê toa có chứa acetaminophen giúp giảm đau đầu hoặc đau lưng.

Kết quả của xét nghiệm

Kết quả của chọc dò tủy sống là gì?

Các mẫu dịch tủy sống được gửi đến phòng thí nghiệm để phân tích. Tùy theo điều kiện khác nhau, giá trị tham chiếu cũng sẽ thay đổi.

Kỹ thuật viên phòng thí nghiệm sẽ kiểm tra những tiêu chuẩn như:

  • Tổng quan. Dịch tủy thường trong và không màu. Nếu dịch mờ, màu vàng hoặc hồng thì mẫu thử có thể cho thấy tình trạng chảy máu bất thường. Dịch tủy có màu xanh lá cây có thể chỉ ra dấu hiệu nhiễm trùng hoặc sự hiện diện của nồng độ bilirubin.
  • Protein [protein toàn phần và một số loại protein]. Mức protein toàn phần tăng cao hơn 45 miligam mỗi decilit [mg/dL] có thể chỉ ra nhiễm trùng hoặc một tình trạng viêm khác. Giá trị tại mỗi phòng thí nghiệm có thể khác nhau.
  • Số lượng bạch cầu. Dịch tủy sống thường chứa tới 5 bạch cầu đơn nhân trên mỗi microliter. Số lượng bạch cầu tăng có thể là dấu hiệu nhiễm trùng. Giá trị tại mỗi phòng thí nghiệm có thể khác nhau.
  • Đường [glucose]. Nồng độ glucose thấp trong dịch tủy sống là bất thường và có thể do viêm màng não do vi khuẩn, xuất huyết não. Nồng độ glucose cao hơn bình thường thường do bệnh tiểu đường.
  • Vi sinh vật. Sự hiện diện của vi khuẩn, virus, nấm hoặc các vi sinh vật khác trong mẫu dịch tủy có thể chỉ ra nhiễm trùng [như giang mai] hoặc những bệnh lý khác.
  • Các tế bào ung thư. Sự hiện diện của các tế bào bất thường trong dịch tủy sống như khối u hoặc tế bào máu chưa trưởng thành có thể chỉ ra một số loại ung thư.
  • Áp lực dịch tủy sống. Áp lực dịch tủy cao có thể xảy ra do sưng [phù] hoặc xuất huyết trong não, nhiễm trùng [như viêm màng não], đột quỵ hoặc các vấn đề về tuần hoàn khác. Áp lực dưới mức bình thường có thể báo hiệu tình trạng ống sống bị hẹp hoặc bị chặn.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Dịch não tủy được tiết ra từ các đám rối mạch mạc ở các não thất và từ khoang ngoài tế bào của hệ thần kinh trung ương. Dịch não tủy lưu thông từ hai não thất bên qua lỗ Monro sang não thất III, theo kênh Sylvius đến não thất IV, qua lỗ Luschka tới khoang dưới nhện ở sàn não, qua lỗ Magendie đến bể chứa ở tiểu não và tủy sống. Từ các bể đáy dịch não tủy được hấp thụ qua các hạt Paccioni vào các xoang tĩnh mạch.

Người lớn bình thường có khoảng 150 - 180 ml dịch não tủy.

Dịch não tủy có ba chức năng chính:

Bảo vệ hệ thần kinh trung ương trước các sang chấn cơ học.

Đảm bảo sự tuần hoàn của các dịch thần kinh, các hormon, các kháng thể và các bạch cầu.

Tham gia điều chỉnh độ pH và cân bằng điện giải của hệ thần kinh trung ương.

Khi hệ thần kinh trung ương bị tổn thương dịch não tủy sẽ có những thay đổi tương ứng, xét nghiệm dịch não tuỷ để phát hiện những thay đổi đó.

CHỈ ĐỊNH

Trong chẩn đoán các bệnh thần kinh

Viêm màng não, viêm não, viêm tủy, viêm não - tủy, viêm đa rễ thần kinh, xơ cứng rải rác…

Hội chứng ép tủy, hội chứng tăng áp lực nội sọ lành tính.

Nghi ngờ chảy máu dưới nhện có kết quả chụp cắt lớp vi tính bình thường.

Các tình trạng bệnh lý thần kinh chưa xác định nguyên nhân: co giật, trạng thái động kinh, rối loạn ý thức…        

Trong điều trị [đưa thuốc vào khoang dưới nhện tủy sống]

Các thuốc gây tê cục bộ phục vụ mục đích phẫu thuật.

Các thuốc kháng sinh, các thuốc chống ung thư, corticoid… để điều trị các bệnh của hệ thần kinh trung ương hoặc các bệnh dây - rễ thần kinh.

Theo dõi kết quả điều trị [trong các bệnh viêm màng não, nấm…].

Trong thủ thuật chụp tủy, chụp bao rễ thần kinh có bơm thuốc cản quang.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Tăng áp lực trong sọ.

Nhiễm khuẩn da hoặc mô mềm vùng chọc kim lấy dịch não tủy.

Nguy cơ chảy máu: bệnh lý của máu dễ gây chảy máu, đang dùng thuốc chống đông … 

Tình trạng bệnh nặng hoặc đã có chẩn đoán xác định qua chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ…  như u não, chảy máu não…

CHUẨN BỊ

Người thực hiện

01 bác sĩ và 02 điều dưỡng.

Phương tiện, dụng cụ, thuốc

Phương tiện, dụng cụ

Buồng tiêm vô khuẩn, giường thủ thuật, ghế cho thủ thuật viên.

Săng có lỗ, gạc, bông cồn, găng tay, kim chuyên dùng, các ống nghiệm đựng dịch não tủy...].

Thuốc

Thuốc chống sốc và gây tê.

Người bệnh

Cho người bệnh soi đáy mắt, ghi điện tim, xét nghiệm máu đông, máu chảy, thử phản ứng thuốc gây tê.

Chuẩn bị tư tưởng [giải thích mục đích thủ thuật, động viên].

Tư thế người bệnh nằm nghiêng, lưng quay ra sát thành giường, co hai đầu gối sát bụng, cẳng chân sát đùi, hai tay ôm đầu gối, đầu gấp vào ngực, lưng cong tối đa [có nhân viên giữ khi người bệnh không phối hợp].

Hồ sơ bệnh án

Ghi nhận xét tình trạng người bệnh và chỉ định chọc dịch não tuỷ.

CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

Kiểm tra hồ sơ

Kiểm tra người bệnh

Thực hiện kỹ thuật

Xác định vị trí và đường chọc

Vị trí: thường chọc qua các khe gian đốt sống L3 – L4, L4 – L5, L5 – S1.

Đường chọc thường được chọn là đường giữa [đường nối các mỏm gai]. Trong trường hợp không thể sử dụng được đường giữa [các trường hợp người bệnh bị thoái hoá cột sống nặng nề hoặc người bệnh không thể nằm co được...] có thể chọc theo đường bên.

Sát trùng

Bộc lộ vùng thắt lưng, sát trùng rộng vùng chọc kim, lần đầu bằng cồn iốt, sau đó sát trùng lại bằng cồn trắng 2 lần. 

Phủ săng có lỗ, để hở vùng chọc. Người làm thủ thuật ngồi phía sau lưng người bệnh, tay thuận cùng chiều với chân người bệnh.

Gây tê

Gây tê điểm chọc kim [điểm giữa các khoang gian đốt kể trên] theo 2 thì: thì đầu gây tê trong da, sau đó gây tê theo đường chọc kim, có thể bơm thuốc liên tục trong khi đưa kim gây tê vào và khi rút kim ra.

Tiến hành chọc dò

Dùng kim chuyên dụng thực hiện thao tác chọc dò dịch não tủy. Thao tác chọc được tiến hành theo 2 thì:

Thì qua da: đặt chuôi kim trong lòng bàn tay phải, ngón cái và ngón trỏ giữ chặt thân kim, mặt vát của kim hướng lên trên song song với trục cột sống, mu bàn tay phải tựa trên da lưng người bệnh để giữ mức chọc kim cho chuẩn. Tay trái xác định lại mốc chọc kim và căng da lưng lúc chọc kim qua da. Để kim vuông góc với mặt da và chọc nhanh qua da.

Thì đưa kim vào khoang dưới nhện: hướng mũi kim chếch về phía đầu người bệnh khoảng 15o, đẩy kim thấy rất dễ dàng [do tổ chức lỏng lẻo], chỉ gặp một sức cản rất nhỏ khi chọc qua dây chằng liên gai sau, trong một số trường hợp, nhất là ở người già dây chằng này bị xơ hoá có thể nhầm với dây chằng vàng. Khi chọc kim qua dây chằng vàng cảm nhận một sức cản lại, tiếp tục từ từ đẩy kim khi chọc qua màng cứng cảm nhận một sức cản lại thì dừng lại.

Khi đầu kim đã nằm trong khoang dưới nhện thì rút từ từ thông nòng của kim, dịch não tủy sẽ chảy thành giọt, tiến hành lấy dịch não tủy làm xét nghiệm.

Sau khi lấy dịch não tủy xong đóng nòng kim lại và rút kim ra, băng vô khuẩn chỗ chọc kim. Cho người bệnh nằm tại giường, đầu không gối cao khoảng 3-4 giờ. 

Ghi nhận xét vào bệnh án vị trí chọc dịch, màu sắc và tốc độ chảy của dịch não tuỷ, tai biến trong quá trình chọc và xử trí.

TAI BIẾN VÀ XỬ TRÍ

Đau đầu sau chọc dò dịch não tủy

Thường mất đi trong vòng hai đến tám ngày có thể kèm chóng mặt, ù tai, buồn nôn, nôn… do áp lực giảm vì lấy nhiều hoặc bị dò qua lỗ chọc kim, do đi lại sớm.

Xử trí: dùng thuốc giảm đau.

Đau lưng do kim to, chạm xương, chạm rễ thần kinh

Xử trí: dùng thuốc giảm đau.

Tụt kẹt não

Gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, đặc biệt ở người bệnh có hội chứng tăng áp lực nội sọ.

Xử trí: chống phù não, hỗ trợ hô hấp, tuần hoàn.

Nhiễm khuẩn [áp xe vị trí chọc, viêm màng não mủ...].

Xử trí: kháng sinh, kháng viêm.

Chảy máu [gây ổ máu tụ ngoài màng cứng hoặc chảy máu dưới nhện]...

Xử trí: như trong bệnh lý chảy máu não.

Tai biến thường gặp là đau đầu, đau lưng. Các tai biến khác hiếm gặp vì đã loại trừ các người bệnh có nguy cơ tai biến [nêu trong phần chống chỉ định].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lê Quang Cường [2010]. Triệu chứng học thần kinh. Dịch não tuỷ. Nhà xuất bản Y học. 192 - 201.

Gorelick PB, Biller J [1986]. Lumbar puncture.Technique, indications, and complications. Postgrad Med; 79:257.

Sempere, AP; Berenguer-Ruiz, L; Lezcano-Rodas, M; Mira-Berenguer, F; Waez, M [2007 Oct 1-15]. "[Lumbar puncture: its indications, contraindications, complications and technique]". Revista de neurologia 45 [7]: 433-6. PMID 17918111.

Video liên quan

Chủ Đề