Vì sao trong giai đoạn đầu văn học viết của các nước Đông Nam A gọi là văn học cung đình

Vài nét về Văn học Đông Nam Á

Vũ Tuyết Loan

  • Chủ nhật, 18:18 Ngày 16/08/2009
  • Đặc điểm của văn học Đông Nam Á [ĐNA].

    * Nói đến văn học Đông Nam Á là phải nói đến sức mạnh dân gian hoá. Nền tảng của sức mạnh dân gian hoá đó là nền văn hoá dân gian còn đang bao trùm hầu như toàn bộ đời sống tinh thần của họ. Văn học dân gian là một trong những cội nguồn của văn học dân tộc.

    Trước khi tiếp xúc với những nền văn hoá lớn của Phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, thì văn học Đông Nam Á đã được hình thành trên cơ tầng văn hoá nói chung của Đông Nam Á thời tiền sử, đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước.

    Đây là nền tảng, là cơ sở quy định sự phát triển văn hoá tinh thần, văn hoá vật chất, cơ cấu xã hội và đời sống tâm linh, tư duy triết lý của con người Đông Nam á trong suốt quá trình vận động của xã hội Đông Nam Á từ xưa cho tới nay. Nền văn minh nông nghiệp lúa nước này là cội nguồn và bản sắc riêng, phát triển liên tục trong lịch sử. Lớp văn hoá nguyên sơ này được nhiều nhà nghiên cứu gọi là cơ tầng văn hoá Đông Nam Á. Trên cơ tầng văn hoá này, văn học dân gian nảy nở, phát triển. Văn học dân gian được xem là ngọn nguồn của văn học dân tộc khu vực Đông Nam Á và đây cũng là lớp văn hoá bản địa trước khi Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của các nền văn hoá lớn từ bên ngoài.

    + Văn học dân gian chiếm phần lớn, nổi bật, bao trùm lên toàn bộ quá trình văn học Đông Nam Á vì nó xuất phát từ một nền văn hoá nông nghiệp với cơ cấu tổ chức làng, xã ở các nước Đông Nam Á.

    Khi có văn học viết, văn học dân gian vẫn phát triển mạnh mẽ, phong phú và vẫn đóng vai trò chủ đạo. Vì vậy, khi nghiên cứu bức tranh văn học Đông Nam Á, đặc biệt là văn học dân gian, phải nghiên cứu nó trong mối quan hệ liên ngành và đa ngành như : tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật...

    Chứng minh: - Trước khi tiếp nhận chịu ảnh hưởng văn hoá từ bên ngoài, các cộng đồng tộc người ở Đông Nam Á đều có tín ngưỡng bản địa, tín ngưỡng đa thần giáo, vạn vật hữu linh và tục thờ cúng tổ tiên. Tín ngưỡng này gắn chặt chẽ với sự phát sinh phát triển của văn học dân gian trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp lúa nước.

    - Sự ra đời các nghi lễ nông nghiệp ban đầu còn gắn với tôn giáo , mang ý nghĩa tôn giáo và dần dần trở thành các sinh hoạt văn nghệ, văn học dân gian. [ từ các hình thức diễn xướng đám rước, múa thiêng, lễ ca, lễ nhạc đến các nghi thức tế tự đều có mối tương tác đan xen với các hình thức hát giao duyên, múa vui, diễn trò tạo nên một sự đồng nhất giữa đạo và đời, giữa cái thánh thiện và cái trần tục. Vì vậy, nghệ thuật diễn xướng bao giờ cũng gắn với tôn giáo và giải trí].

    - Văn học dân gian thời kỳ này mang màu sắc nguyên sơ của các cộng đồng làm nông nghiệp, trồng trọt, săn bắn, đánh cá. Thần thoại, truyền thuyết phản ánh rõ nét các sinh hoạt nghi lễ tín ngưỡng của các cư dân Đông Nam á trước sức mạnh của thiên nhiên và những quan niệm cổ sơ của họ về vũ trụ, về thế giới bao quanh mình. Thần thoại về lụt, về nguồn gốc dân tộc, về các nhân vật văn hoá phổ biến ở các nước Đông Nam Á. Nhân vật văn hoá là những anh hùng của thị tộc, bộ lạc. Họ là những nhân vật có công lao, có tài hơn người khác. Những người anh hùng ấy được quần chúng bộ lạc tôn thờ, tô vẽ, phóng đại, thêu dệt thành những thần thoại vì họ là những ông tổ giúp loài người, dạy loài người làm ăn sinh sống. ở Đông Nam á ta bắt gặp nhân vật văn hoá lên trời lấy thóc giống đem về mặt đất gieo trồng. Điều đó phản ánh một hiện thực là văn hoá nông nghiệp hình thành, con người đã biết lấy lúa về để canh tác. Những thần thoại còn lại đến ngày nay như Sự tích cây lúa, tục lệ thờ cúng cây lúa, các sản phẩm làm ra từ lúa...[Sự tích Bánh chưng bánh dày của Việt Nam].

    Thần thoại về Nhân vật văn hoá phản ánh bước chuyển mình của cư dân Đông Nam Á từ cuộc sống săn bắn , hái lượm tự nhiên chuyển sang trồng trọt, chế tác ra công cụ lao động. Trong kho tàng truyện cổ Đông Nam Á có các truyện về cách đan lưới bắt cá, và cơ sở của một loạt truyện khác sau này có liên quan đến tục ăn trầu, sử dụng trầu, cau, rễ, vôi của cư dân Đông Nam Á. Gắn với tín ngưỡng vạn vật hữu linh, trong văn học dân gian Đông Nam Á có nhiều bài mo cầu nguyện thần linh mà đến nay còn lưu lại ít nhiều. Từ quan niệm tín ngưỡng này mới nảy sinh ra các tập quán như kiêng cữ, tránh né các thần, các hồn ở trong các sự vật làm phương hại đến cuộc sống của con người. Tất cả các hiện tượng nêu trên là nền tảng của một cơ tầng văn hoá Đông Nam Á, một thứ văn học nguyên bản hỗn hợp trước khi có tiếp xúc với văn hoá Ấn Độ và Trung Quốc.

    Trước khi chuyển từ thời tiền sử sang thời kỳ lịch sử [với sự hình thành của các nhà nước cổ đại] tức là vào khoảng các thế kỷ VI,V, IV trước Công nguyên thì các cư dân ở Đông Nam Á đã có một trình độ tương đối phát triển. Những quan niệm về tính chất lưỡng phân- lưỡng hợp của thế giới như đối lập mặt trăng với mặt trời, trời với đất, núi với biển, loài có cánh với loài thuỷ tộc, cư dân miền Thượng lưu và cư dân miền Hạ lưu..... được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau trong thần thoại và truyền thuyết của vùng Đông Nam Á tiền sử.

    Từ đầu Công nguyên [thậm chí còn sớm hơn] cho đến nay, Đông Nam Á là nơi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của các nền văn hoá lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập, Ba Tư, Tây Âu. 10 thế kỷ đầu sau Công nguyên, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, văn hoá Trung Quốc qua các con đường, những cách thức khác nhau. Người ấn Độ thâm nhập vào vùng Đông Nam á đem tới đây các tôn giáo [Bàlamôn giáo; Phật giáo...] và các loại hình văn hoá của Ấn Độ, trong đó có văn học. Các dân tộc ở Đông Nam Á đã tiếp thu một cách đầy sáng tạo các đề tài, cốt truyện, các phong cách nghệ thuật của Ấn Độ và biến cải nó cùng với vốn văn hoá của mình để rồi tạo nên những công trình điêu khắc kiến trúc đồ sộ như Bôrôbuđua;

    ĂngcoVat, những áng văn học đậm đà tính chất dân gian lấy từ Jataka, Panchatantra, Ramayana, Mahabrrahata....

    Những tác phẩm văn học cổ đại Ấn Độ khi vào Đông Nam Á gặp ngay đời sống dân gian vô cùng sống động ở vùng này nên chúng được dân gian hoá, được “tái sinh’ trong dân gian, chúng làm giàu thêm cho kho tàng văn học dân gian vùng này.

    Mối quan hệ qua lại giữa văn học nói và văn học viết là một trong những đặc trưng cơ bản của nền văn học Trung đại Đông Nam Á.

    * Hầu như văn học Đông Nam Á đều hình thành hai bộ phận: văn học bằng tiếng vay mượn [Sanskrit, Pali, Hán, Ả rập, Tây Ban Nha] và văn học bằng tiếng dân tộc.

    Nền văn minh nông nghiệp với sự phát triển của văn học dân gian đã làm cho văn học thành văn của Đông Nam Á ra đời muộn. 10 thế kỷ đầu sau Công nguyên, các nước ở Đông Nam Á chưa có chữ viết, trong khi đó tôn giáo Ấn Độ và Phật giáo du nhập & phát triển ở các quốc gia Đông Nam Á. Tiếng Pali, Sanskrit, tiếng Hán không những đóng vai trò ngôn ngữ trong truyền giáo mà còn đóng vai trò ngôn ngữ văn học ở các quốc gia Đông Nam Á. ban đầu các quốc gia ở Đông Nam Á đã vay mượn trực tiếp các chữ viết của ấn Độ, Trung Quốc. Sau đó cư dân Đông Nam á mới dựa trên những mẫu chữu đó để sáng tạo ra chữ viết rieng của mình. Thứ chữ viết này chủ yếu dùng trong công việc hành chính ở các quốc gia cổ đại Đông Nam Á.

    Từ xu hướng bản địa hoá các tác phẩm văn học cổ ấn Độ tiến đến dân tộc hoá nền văn học viết, đó cũng là đặc điểm chung của văn học Đông Nam á.

    Quá trình đó diễn ra trong văn học viết truyền thống từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII khi văn học Hồi giáo ả Rập- Batư, văn học châu Âu thâm nhập vào các nước này, đặc biệt ở Philippines, Indonesia, Malaysia...

    Trước thế kỷ thứ X, các dân tộc ở Đông Nam Á chưa có chữ viết, thường phải sử dụng tiếng Pali, Sanskrit, chữ Hán. Các dân tộc Đông Nam Á đã mượn mẫu chữ trên để sáng tạo ra một loại chữ viết của dân tộc mình.. Có nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng, các dân tộc Đông Nam Á biết đến chữ viết từ thế kỷ III, IV hoặc có thể ở thế kỷ V, VI, những mãi đến thế kỷ X họ mới sử dụng trong văn học.

    Thời kỳ đầu của của văn học thành văn [khoảng thế kỷ X- XV], tiếng Pali, Sanskrit, Hán đóng vai trò ngôn ngữ văn học. [Ví dụ: văn học thế kỷ VII-XIII ở Mã lai-Indonesia lấy Sanskrit làm ngôn ngữ thơ ca. Trong khi đó tiếng Mã Lai cổ, tiếng Gia va chỉ dùng trong công việc hành chính và trong sinh hoạt.]

    Như vậy có thể thấy điểm mốc văn học viết của Đông Nam Á bắt đầu khoảng thế kỷ XII-XIII, tuy có nước văn học víet xuất hiện sớm hơn và có nứoc văn học viết xuất hiện muộn hơn. Đông Nam Á thực sự tạo ra nền văn học viết phải tính từ thế kỷ XIV trở đi.

    Văn học viết thế kỷ XIII-XVIII nói chung là văn học cung đình, còn ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, Trung Quốc. [riêng Indonesia, Malaysia chịu ảnh hưởng của văn hoá Giava và văn hoá Hồi giáo của Ả Rập- Ba tư. Cá biệt như Philippines đã tiếp thu ảnh hưởng của văn học châu Âu sớm hơn cả- thông qua Tây ban Nha, vì thế sau này, văn học Philippines cách tân sang thời kỳ hiện đại sớm hơn các nước khác trong khu vực].

    Văn học viết truyền thống ở Đông Nam Á bao gồm dòng văn học viết bằng tiếng và chữ vay mượn ở ngoài và dòng văn học viết bằng chữ viết dân tộc.

    Bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ vay mượn lúc đầu có ưu thế trội hơn bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc vì ngôn ngữ vay mượn chuyển tải văn học được xem là cao quý, bác học. Dần dần văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc chiếm ưu thế , trở thành phương tiện biẻu đạt đời sống tinh thần của dân tộc. Về phương diện nội dung, văn học truyền thống các nước Đông Nam Á lúc ban đầu còn đi vào những đề tài xa lạ với đời sống thực tế của dân tộc; những câu chuyện văn học thường nói tới những xứ sở xa xôi, những nhân vật thần thoại, hoang đường.

    Văn học trung cổ Đông Nam Á phần nhiều mang tính chất nửa lịch sử, nửa nghẹ thuật. Truyện thơ giai đoạn này là phổ biến, thường là truyện thơ khuyết danh.[ ở Việt Nam có các truyện thơ nôm khuyết danh; ở thế giới Melayu có các Hykayat....]

    Thế kỷ XV,XVII, XVIII, văn học Đông Nam Á phát triển mạnh [ở Indonesia, vào thế kỷ XV, văn học Giava phát triển nở rộ, xuất hiện những tác phẩm lớn hoàn toàn đoạn tuyệt với văn hoá Ấn Độ. Tác phẩm Pararaton- nghĩa là sách của các ông vua viết vào thế kỷ XV là một ví dụ. Tác phẩm này viết bằng ngôn ngữ Giava trung cổ, gần gũi với ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày cảu nhân dân thời đó. Tác phẩm viết về sự cai trị của vua Giava, phản ánh sự hưng thịnh của nhà nước Magiapahit. Trong văn học chung Malay-Indonesia xuất hiện tác phẩm nổi tiếng: “Truỵện về Hang Tuak” viết vào thế kỷ XVII.

    Ở Thái Lan, văn học phát triển nở rộ hơn cả cũng ở thế kỷ XVII, nhất là dưới thời vua Pra Narai. Vua Pra Narai đã tập hợp các nhà thơ tài năng xung quanh mình. Họ nói về cung vua Narai vĩ đại thời đó “tất cả đều hít thở bằng thơ’. Có những nhà thơ lớn như Maharachakru, Si Mahosot...Không khí sáng tác văn học, thưởng thức văn học sôi nổi làm cho đời sống văn học ở Thái Lan thế kỷ XVII phong phú hẳn lên và rõ ràng là nó có những thành tựu văn học nhất định.

    Ranh giới giữa văn học viết và văn học truyền miệng ở Đông Nam Á nhiều khi không rõ rệt . Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng lại chính là những tác phẩm văn học dân gian đã từng được lưu truyền qua các thế hệ và trở nên nổi tiếng.

    Đến thế kỷ XVII, XVIII, XIX mới nở rộ một loạt tác phẩm xuất sắc viết bằng chữ của dân tộc mình như: Truyện Kiều ở Việt Nam; XỉnXay ở Lào; Phrra Aphaymani, Khủn Chang Khủn Phèn ở Thái Lan; truyện Hang Tuak [Hikayat Hang Touah] ở Indonesia; truyện Apđula [Hikayat Abdoullah] ở Malaysia.

    Văn học viết dân tộc ngày càng phát triển, mang đậm tính dân tộc, đó chính là sự kế thừa, tiếp nối và sáng tạo văn học dân gian. Có thể nói không nơi nào sức sống của văn học dân gian mãnh liệt và bền vững như ở vùng Đông Nam á này.

    Văn học dân gian vẫn tiếp tục cung cấp cho văn học viết đề tài, hình thức thể hiện và chất trữ tình, làm cho màu sắc dân tộc càng đậm nét trong các tác phẩm văn học. ở Việt Nam thể ca dao lục bát; ở Thái Lan thể Klon 8, ở Indonesia thể Pantun 4 câu đều được các nhà thơ sử dụng rất điêu luyện. Do sử dụng hình thức đó mà thể loại truyện thơ phát triển mạnh tạo tiền đề cho tiểu thuyết ra đời khi tiếp cận được với văn học Phương Tây ở thế kỷ XIX, XX.

    * Văn học viết truyền thống của Đông Nam Á được nuôi dưỡng từ ba nguồn lớn: văn học dân gian, văn học lịch sử, văn học nước ngoài.

    Thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, văn học Đông Nam Á tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây.

    Cuối thế kỷ XIX, việc xuất hiện các nhà in, các cơ quan báo chí ngôn luận trong thời gian này tạo thành một môi trường xã hội thuận lợi cho văn học phát triển. Văn học khai sáng và những nhân tố của chủ nghĩa hiện thực hình thành trong văn học. Thời kỳ này, nhiều tác phẩm sao phỏng được công bố, in ấn công bố và phát hành rộng rãi ở Đông Nam Á. Tầng lớp tiểu tư sản trí thức đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm quen với văn học Phương Tây, hình thành nên những thể loại mới, hiện đại ở các nền văn học Đông Nam á như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa.

    Thế kỷ XVI, Philippines bị Tây Ban Nha xâm chiếm. Kẻ chiếm đóng mang theo nền văn hoá Phương tây có thể xem như mở màn cho cuộc hội nhập văn hoá lần thứ hai của Đông Nam Á. Tiếp đó vào thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, văn hoá phương Tây đã ăn sâu bén rễ trên mảnh đất này. Ở Philippines sau Tây Ban Nha đến Mỹ, ở Indonesia chủ yếu là Hà Lan, ở Việt Nam, Campuchia, là Pháp, ở Myanmar là Anh...

    Trong cuộc hội nhập lần này, các nước Đông Nam Á cũng rất tỉnh táo và nhạy bén. Họ biết “gạn đục khơi trong”, biết kế thừa những tinh hoa của văn hoá nhân loại qua các tác phẩm văn học của phương Tây.

    Văn học Đông Nam Á tiếp thu được ở văn học phương Tây trước hết là tư tưởng tự do, dân chủ, tư tưởng khoa học được phản ánh trong các tác phẩm văn học như thơ ca, tiểu thuyết của Anh, Pháp, tác phẩm của Secxpia, Bairơn, Victo Huygo, Giun Vecnơ........bằng nguyên văn hoặc được dịch ra tiếng dân tộc. Những tư tưởng đó đã bồi dưỡng, soi sáng, kích thích thêm tinh thần yêu nước, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc của các dân tộc ở đây trong những đêm dài nô lệ.

    Văn học Đông Nam Á tiếp thu thêm những thể loại văn học mới như thơ tự do, kịch nói, truyện ngắn, tiểu thuyết.... Đặc biệt tiểu thuyết là loại văn xuôi chóng thích ứng với đời sống tinh thần của các dân tộc ở đây.

    Đầu thế kỷ XX, văn học Đông Nam Á bước sang thời kỳ hiện đại

    Văn xuôi chiếm ưu thế trong văn học và đó là điều mới mẻ trong truyền thống văn học. Thể loại hình thành sớm nhất là thơ ca và từ xưa đến nay, thơ ca luôn “ngự trị” trong văn học Đông Nam Á. Hiện tượng văn xuôi nổi lên chiếm ưu thế có thể thấy rõ trong văn học Thái Lan và trong một số nền văn học khác. ở Philippines, tiểu thuyết xuất hiện rất sớm vào những năm 1877 [cuốn Urbane và Phelisa viết bằng tiếng Tagan của Modesto de Kasta] và 1887 [cuốn Đừng đụng vào tôi viết bằng tiếng Tây Ban Nha của nhà văn nổi tiếng Hose Rizal].

    + Nhìn chung, những năm 20,30 của thế kỷ XX, thể loại tiểu thuyết ra đời hầu hết ở các nền văn học Đông Nam á. Tiểu thuyết đầu tiên ra đời ở Indonesia năm 1921[cuốn Bất hạnh và đau khổ của M.Siregar], ở Việt Nam năm 1925 [cuốn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách]....sau những mốc thời gian đó, tiểu thuyết nở rộ, hàng loạt những cuốn tiẻu thuyết xuất hiện là cho tiểu thuyết trở thành thể loại tiêu biểu trong những năm 20,30 của văn học Đông Nam á.

    + Cùng với tiểu thuyết, thể loại truyện ngắn cũng ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu XX. Truyện ngắn ra đời muộn hơn các thể loại khác nhưng là thể loại phát triển mạnh từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Từ đó trở đi, truyện ngắn luôn luôn là thể loại thường trực trong văn học hiện đại Đông Nam Á.

    + Văn học Đông Nam Á phản ánh những vấn đề về đấu tranh giải phóng dân tộc, vấn đề độc lập, tự do, dân chủ. đặc biệt trong thể loại văn xuôi, vấn đề đáu tranh chống ngoại xâm, đấu tranh vì nền dân chủ, chính nghĩa, tự do xã hội, bình đẳng để có quyền sống làm người là nội dung tư tưởng trong các sáng tác văn học Đông Nam Á. Đông Nam Á cũng đang hoà nhập vào khu vực và quốc tế, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hoá như hiện nay.

    Bước vào thời kỳ hiện đại, văn học Đông Nam Á thay đổi toàn diện sâu sắc- thay đổi nội dung chức năng của văn học, thay đổi về hình thức, thể loại văn học và ngôn ngữ văn học.

    + Văn học hiện đại Đông Nam Á tiến bước trên con đường quanh co, khúc khuỷu, luôn luôn phải đấu tranh để tiến lên: cuộc đấu tranh để xác định chức năng của văn học, cụôc đấu tranh giữa truyền thống và đổi mới, cuộc đấu tranh giữa yêu cầu thống nhất toàn quốc và tính hẹp hòi địa phương, cuộc đấu tranh giữa dòng văn học cách mạng và dòng văn học phản động....

    + Do hoàn cảnh đặc biệt ở Đông Nam Á, người ta có thể nói đến một nền văn học cách mạng trong thời kỳ hiện đại.

    + Văn học hiện đại Đông Nam Á đã góp phần quan trọng vào làm cho tiếng nói dân tộc trong vùng Đông Nam á thích ứng với đời sống hiện đại.

    + Đông Nam Á vốn quen với sân khấu múa và sân khấu hát, vào thời kỳ hiện đại bắt đầu tìm thấy trong kịch nói một khả năng mới giúp chuyển đạt những vấn đề xã hội đương thời đến đông đảo quần chúng. Cùng với những hoạt động báo chí, ngành phê bình văn học, nghiên cứu văn học, sáng tác văn học là những bộ phận không thể thiếu được của đời sống văn học tạo nên bộ mặt hoàn chỉnh của văn học hiện đại Đông Nam Á.

    Vũ Tuyết Loan, Tiến sỹ

    www.trieuxuan.info

    Bài viết liên quan

    • Bản sắc văn hóa Việt trong tiểu thuyết lịch sử của Phùng Văn Khai

    • Tiểu thuyết lịch sử như là sự kiến tạo diễn ngôn dân tộc chủ nghĩa - Trường hợp Nam Đế Vạn Xuân của Phùng Văn Khai

    • Sophocle và vở bi kịch Oedipus làm vua

    • Nhà viết kịch Xuân Trình: Đối thoại trong sống và viết...

    • Tản mạn quanh lưng ong và yếm thắm

    • Se duyên Chèo và Cải lương: Thử nghiệm mới trong 'Ngàn năm mây trắng'

    • Trang chủ
    • Tiểu thuyết
    • Truyện ngắn
    • Thơ
    • Lý luận phê bình văn học
    • Những bài báo
    • Điện ảnh, âm nhạc và hội họa
    • Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
    • Tư liệu sáng tác
    • Tác giả
    • Sách mới
    • Tin tức

    Tìm kiếm

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,257,035

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      //aritarivera.com/

    Đọc nhiều nhất

    • Phạm Hổ - Thơ viết cho nhi đồng
    • Người của giang hồ [5]: Lâm Chín ngón
    • Thuật quan sát người [4]
    • Người của giang hồ [11]: Hải bánh
    • Người của giang hồ [8]: Huỳnh Tỳ
    • Thuật quan sát người [2]
    • Vài nét về tục Cúng Mụ, đầy tháng, thôi nôi
    • Vài tư liệu về Tục thờ Thánh Mẫu
    • Chùm thơ về Tây Nguyên
    • Chuyện Sọ Dừa
    trieuxuan.info

      Website www.trieuxuan.info ra mắt từ ngày 04-9-2008, là trang web chuyên về Văn học Nghệ thuật của nhà văn Triệu Xuân.

      Rất mong quý bạn đọc góp ý, phê bình, gửi bài cộng tác. www.trieuxuan.info giữ bản quyền những gì mình đăng tải.

      Mọi trích dẫn, tái sử dụng vui lòng ghi rõ nguồn: trieuxuan.info.

      Liên lạc: Mobile: 0989 009 227; Email:

      Thiết kế và phát triển bởi P.A Việt Nam

    TOP

    Trắc nghiệm Lịch Sử 10 Bài 6 có đáp án năm 2021 mới nhất

    • Lý thuyết Lịch Sử 10 Bài 6: Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ
    • Trắc nghiệm Lịch Sử 10 Bài 6: Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ [phần 1]
    • Trắc nghiệm Lịch Sử 10 Bài 6: Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ [phần 2]

    Tải xuống

    Để giúp học sinh có thêm tài liệu tự luyện môn Lịch Sử lớp 10 năm 2021 đạt kết quả cao, chúng tôi biên soạn Trắc nghiệm Lịch Sử 10 Bài 6 có đáp án mới nhất gồm các câu hỏi trắc nghiệm đầy đủ các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dung cao.

    Bài 6. CÁC QUỐC GIA ẤN độ VÀ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ẤN ĐỘ

    Câu 1:Con sông nào được xem là nơi khởi nguồn của nền văn hóa Ấn Độ?

    A.Sông Ấn

    B.Sông Hằng

    C.Sông Gôđavari

    D.Sông Namada

    Đáp án :Con sông Ấn [Indus] thuộc vùng Tây Bắc Ấn Độ, nhờ nó mà có tên gọi Ấn Độ và lãnh thổ Ấn Độ, là nơi khởi nguồn của nền văn hóa Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: A

    Câu 2:Đầu Công nguyên, vương triều nào đã thống nhất miền Bắc Ấn Độ, mở ra một thời kì phát triển cao và rất đặc sắc trong lịch sử Ấn Độ?

    A.Vương triều Asôca

    B.Vương triều Gúpta

    C.Vương triều Hácsa

    D.Vương triều Hậu Gúpta

    Đáp án :Đầu Công nguyên, miền Bắc Ấn Độ đã được thống nhất lại, bước vào một thời kì mới phát triển cao và rất đặc sắc của lịch sử Ấn Độ - thời Vương triều Gúp – ta.

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 3:Vương triều Gúp-ta do ai sáng lập? Vào thời gian nào?

    A.Gúp-ta sáng lập, vào đầu công nguyên

    B.A-cơ-ba sáng lập, vào thế kỉ IV

    C.A-sô-ca sáng lập, vào thế kỉ II

    D.Bim-bi-sa-ra sáng lập, vào năm 1500 TCN

    Đáp án :Đầu Công nguyên, miền Bắc Ấn Độ đã được thống nhất lại, bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ phát triển cao và rất đặc sắc của lịch sử Ấn Độ - thời Vương triều Gúp-ta. Vương triều do vua Gúp-ta sáng lập nên.

    Đáp án cần chọn là: A

    Câu 4:Thời kì định hình và phát triển của văn hóa truyền thống Ấn Độ là

    A.Thời kì Magađa [khoảng 500 năm TCN đến thế kỉ III]

    B.Thời kì Gúpta [319 – 606] đến thời kì Magađa [thế kỉ VII]

    C.Thời kì Hácsa [606 – 647] đến thời kì Magađa [thế kỉ VIII]

    D.Thời kì Asôca qua thời Gúpta đến thời Hácsa [từ thế kỉ III TCN đến thế kỉ VII]

    Đáp án :Vương triều Gúp-ta có 9 đời vua, qua gần 150 năm [319 – 467], vẫn giữ được sự phát tiển và nét đặc sắc cả dưới thời hậu Gúp-ta [467 – 606] và Vương triều Hác – sa tiếp theo [606 – 647], tức là từ thế kỉ IV đến thế kỉ VII. Nét đặc sắc nổi bật của thời kì này là sự định hình và phát triển của văn hóa truyền thống Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: D

    Câu 5:Đến vương triều nào, miền Bắc Ấn Độ được thống nhất trở lại bước vào một thời kì mới, thời kì phát triển cao và rất đặt sắc của lịch sử Ấn Độ?

    A.Vương triều hồi giáo Đê-Li

    B.Vương triều Gúp-ta

    C.Vương triều A-sô-ca

    D.Vương triều Hác-sa

    Đáp án :Đầu Công nguyên, miền Bắc Ấn Độ đã được thống nhất lại, bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ phát triển cao và rất đặc sắc của lịch sử Ấn Độ - thời Vương triều Gúp-ta.

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 6:Những công trình kiến trúc bằng đá rất đẹp và rất lớn gắn liền với sự truyền bá đạo Phật ở Ấn Độ là

    A.Chùa

    B.Chùa hang

    C.Tượng Phật

    D.Đền

    Đáp án :Cùng với sự truyền bá Phật giáo, lòng tôn sùng đối với đạo Phật, người ta đã làm hàng chục ngôi chùa hang [đục đẽo hang đá thành chùa]. Đây là những công trình kiến trúc bằng đá rất đẹp và rất lớn.

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 7:Hinđu giáo là tôn giáo bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa của người Ấn Độ, còn có tên gọi khác là:

    A.Ixlam giáo

    B.Phật giáo

    C.Ấn Độ giáo

    D.Cơ đốc giáo

    Đáp án :Hinđu giáo bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa của người Ấn Độ, còn có tên gọi khác là Ấn Độ giáo.

    Đáp án cần chọn là: C

    Câu 8:Đạo Phật được truyền bá rộng khắp Ấn Độ từ thời kì nào?

    A.Thời vua Bimbisara

    B.Thời vua Asôca

    C.Vương triều Gúpta

    D.Vương triều Hácsa

    Đáp án :Đạo Phật được truyền bá mạnh mẽ dưới thời vua A-sô-ca, tiếp tục dưới các triều đại Gúp – ta và Hác – sa, đến thế kỉ VII.

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 9:Người sáng lập nên đạo Phật ở Ấn Độ là

    A.Bimbisara

    B.Asôca

    C.Sít-đác-ta [Sakya Muni].

    D.Gúpta

    Đáp án :Ở Bắc Ấn Độ, thành phố Ki-pi-la-va-xtu là quê hương của nhà hiền triết Sít-đác-ta, sau trở thành Phật tổ, hiệu là Sa-ky-a Mu-ni [Thích Ca Mâu Ni].

    Đáp án cần chọn là: C

    Câu 10:Các ngôi đền bằng đá đồ sộ, hình chóp núi được xây dựng ở Ấn Độ với mục đích

    A.Thờ Phật

    B.Thờ Linh vật

    C.Thờ thần

    D.Thờ đấng cứu thế

    Đáp án :Người Ấn Độ thờ rất nhiều thần, người ta đã xây dựng nhiều ngôi đền bằng đã rất đồ sộ, hình chóp núi, là nơi ngự trị của thần thành và cũng tạc bằng đá, hoặc đúc bằng đồng rất nhiều pho tượng thần thành để thờ với những phong cách nghệ thuật rất độc đáo.

    Đáp án cần chọn là: C

    Câu 11:Trong bốn thần chủ yếu mà người Ấn Độ giáo tôn thờ, thầu Bra-ma gọi là thần gì

    A.Thần Sáng tạo thế giới.

    B.Thần Tàn phá

    C.Thần Bảo hộ

    D.Thần Sấm sét

    Đáp án :Trong bốn thần chủ yếu mà người Ấn Độ giáo tôn thờ, thầu Bra-ma gọi là thần Sáng tạo thế giới.

    Đáp án cần chọn là: A

    Câu 12:Đạo Hinđu ở Ấn Độ tôn thờ

    A.Chủ yếu 4 vị thần: Brama, Siva, Visnu và Inđra

    B.4 vị thần: Brama, Siva, Visnu và Inđra

    C.2 vị thần: Brama và Siva

    D.Đa thần, không đếm xuể.

    Đáp án :Đạo Hinđu ở Ấn Độ tôn thờ nhiều thần nhưng chủ yếu là 4 vị thần: Brama [thần Sáng tạo thế giới], Siva [thần Hủy diệt], Visnu [thần Bảo hộ] và Inđra [thần Sấm sét].

    Đáp án cần chọn là: A

    Câu 13:Đạo Hinđu - một tôn giáo lớn ở Ấn Độ đã được hình thành trên cơ sở nào?

    A.Giáo lí của đạo Phật

    B.Những tín ngưỡng cổ xưa của người Ấn Độ

    C.Giáo lí của đạo Hồi

    D.Văn hóa truyền thống Ấn Độ

    Đáp án :Cùng với Phật giáo, Ấn Độ giáo [hay Hinđu giáo] cũng ra đời và phát triển. Đây là tôn giáo bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa của người Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 14:Khu vực nào chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của văn hóa Ấn Độ?

    A.Bắc Á

    B.Tây Á

    C.Đông Nam Á

    D.Trung Á

    Đáp án :Người Ấn Độ đã mang văn hóa, đặc biệt là văn hóa truyền thống của mình truyền bá ra bên ngoài. Đông Nam Á là nơi chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của văn hóa Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: C

    Câu 15:Quê hương của nhà hiền triết Sit-đac-ta, sau trở thành Phật tổ là thành phố Ka-pi-la-va-xta thuộc:

    A.Miền Nam Ấn Độ

    B.Miền Trung Ấn Độ

    C.Miền Tây Ấn Độ

    D.Miền Bắc Ấn Độ

    Đáp án :Ở miền Bắc Ấn Độ - thành phố Ka-pi-la-va-xtu là quê hương của nhà hiền triết Sít-đác-ta tự xưng là Sa-ky-a Mu-ni [Thích Ca Mâu Ni], sau trở thành Phật tổ.

    Đáp án cần chọn là: D

    Câu 16:Vương triều Gúpta có vai trò to lớn trong việc thống nhất Ấn Độ, ngoại trừ việc

    A.Tổ chức các cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ đất nước Ấn Độ

    B.Thống nhất miền Bắc Ấn Độ

    C.Thống nhất gần như toàn bộ miền Trung Ấn Độ

    D.Thống nhất giữa các vùng, miền ở Ấn Độ về mặt tôn giáo

    Đáp án :Vương triều Gúp – ta có vai trò to lớn trong việc thống thống nhất Ấn Độ, bằng chứng là:

    - Tổ chức các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước Ấn Độ.

    - Thống nhất miền Bắc Ấn Độ và gần như toàn bộ miền Trung Ấn Độ.

    Vương triều Gúp – ta không thống nhất được về mặt tôn giáo giữa các vùng miền, các tôn giáo ở Ấn Độ đa dạng, định hình và phát triển dưới thời kì này.

    Đáp án cần chọn là: D

    Câu 17:Do đâu nhiều ngôi chùa hang được xây dựng ở Ấn Độ dưới thời Gúp-ta?

    A.do nhân dân bắt đầu nghĩ đến tín ngưỡng.

    B.do lòng tôn sùng đạo Phật của dân chúng

    C.do đạo Phật được truyền bá rộng rãi.

    D.do xây dựng nhiều chùa để át tà ma.

    Đáp án :Dưới thời Gúp-ta, cùng với sự truyền bá Phật giáo và lòng tôn sùng đối với Phật, người ta đã làm nhiều ngôi chùa hang bằng cách đục đẽo hang đá thành hàng chục ngôi chùa rất kì vĩ, là những công trình kiến trúc đá rất đẹp và rất lớn. Cùng với chùa là những pho tượng Phật điêu khắc bằng đá hoặc trên đá.

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 18:Loại văn tự nào phát triển sớm nhất ở Ấn Độ?

    A.Chữ Brahmi – chữ Phạn

    B.Chữ Brahmi – chữ Pali

    C.Chữ Phạn và kí tự Latinh

    D.Chữ Pali và kí tự Latinh

    Đáp án :Người Ấn Độ sớm đã có chữ viết, như chữ cổ vùng sông Ấn từ năm 3000 TCN, chữ cổ vùng sông Hằng có thể có từ 1000 năm TCN. Ban đầu là kiểu chữ đơn sơ Brahmi, rồi nâng nên sáng tạo thành chữ Phạn [Sancrit].

    => Chữ Brahmi – chữ Phạn loai văn tự phát triển sớm nhất ở Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: A

    Câu 19:Người Ấn Độ đã có chữ viết riêng của mình từ rất sớm, phổ biến nhất là chữ gì?

    A.Chữ Phạn

    B.Chữ Nho

    C.Chữ tượng hình

    D.Chữ Hin-đu

    Đáp án :Người Ấn Độ sớm đã có chữ viết, như chữ cổ vùng sông Ấn từ năm 3000 TCN, chữ cổ vùng sông Hằng có thể có từ 1000 năm TCN. Ban đầu là kiểu chữ đơn sơ Brahmi, rồi nâng nên sáng tạo thành chữ Phạn [Sancrit].

    => Chữ Brahmi - chữ Phạn loại văn tự phát triển sớm nhất ở Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: A

    Câu 20:Sự hình thành và phát triển sớm ngôn ngữ, văn tự ở Ấn Độ có ý nghĩa gì quan trọng nhất?

    A.Chứng tỏ nền văn minh lâu đời ở Ấn Độ

    B.Tạo điều kiện cho một nên văn học cổ phát triển rực rỡ

    C.Tạo điều kiện chuyển tải và truyền bá văn học văn hóa ở Ấn Độ

    D.Thúc đẩy nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc phát triển

    Đáp án :Ngôn ngữ Phạn được dùng phổ biến dưới thời Gúp – ta trong việc viết văn bia. Ngôn ngữ và văn tự phát triển là điều kiện để truyền tải, truyền bá văn hóa, văn học Ấn Độ. Đây cũng là ý nghĩa quan trọng nhất của sự hình thành và phát triển sớm ngôn ngữ, văn tự ở Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: C

    Câu 21:Ý nghĩa quan trọng nhất của sự hình thành và phát triển sớm ngôn ngữ,văn tự ở Ấn Độ là gì?

    A.Chứng tỏ trí tuệ và óc sáng tạo của người Ấn Độ

    B.Tạo điều kiện cho một nền văn học cổ phát triển rực rỡ

    C.Tạo điều kiện chuyển tải và truyền bá văn học văn hóa ở Ấn Độ

    D.Thúc đẩy nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc phát triển

    Đáp án :Ngôn ngữ Phạn được dùng phổ biến dưới thời Gúp-ta trong việc viết văn bia. Ngôn ngữ và văn tự phát triển là điều kiện để truyền tải, truyền bá văn hóa, văn học Ấn Độ. Đây cũng là ý nghĩa quan trọng nhất của sự hình thành và phát triển sớm ngôn ngữ, văn tự ở Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: C

    Câu 22:Yếu tố nào dưới đây không thuộc sự phát triển về văn hóa lâu đời của ấn Độ?

    A.Tôn giáo - Phật giáo và Hin-đu giáo.

    B.Nghệ thuật kiến trúc đền chùa, lăng mộ, tượng Phật.

    C.Chữ viết, đặc biệt là chữ Phạn.

    D.Công trình kiến trúc Nho – Đạo – Phật.

    Đáp án :Văn hóa truyền thống Ấn Độ phát triển hai tôn giáo chủ đạo là: Phật giáo và Hinđu giáo [Ấn Độ giáo], không phát triển Nho giáo như ở Trung Quốc.

    Hỡn nữa, Ấn Độ có một nền văn hoá lâu đời và phát triển cao, chủ yếu gồm:

    - Tôn giáo [Phật giáo và Hindu giáo] cùng với những tập tục và các lễ nghi tôn giáo.

    - Cùng với tôn giáo là nghệ thuật kiến trúc đền chùa, lăng mộ như kiểu đền tháp hình núi, lăng mộ hình bát úp, bán cầu.

    - Nghệ thuật tạc tượng Phật giáo, Hindu giáo qua các thời kỳ, các phong cách kiểu dáng.

    - Chữ viết, đặc biệt là chữ Phạn, dùng để viết văn, ghi tài liệu, khắc bia và chữ Pa-li dùng để viết kinh Phật.

    Từ chữ viết mà văn học Hindu và văn học truyền thống được ghi lại, được sáng tạo, như hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na, các tác phẩm của Ka-li-đa-sa như Sơ-kun-tơ-la…

    => Không có các công trình kiến trúc Nho giáo trong văn hóa truyền thống Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: D

    Câu 23:Yếu tố nào dưới đây là biểu hiện của sự phát triển văn hóa lâu đời ở Ấn Độ?

    A.Các công trình kiến trúc Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo được xây dựng ở nhiều nơi.

    B.Nghệ thuật tạc tượng Phật giáo, Hindu giáo qua các thời kỳ với các phong cách kiểu dáng.

    C.Những công trình kiến trúc đền đài, cầu máng dẫn nước, trường đấu,… oai nghiêm, đồ sộ.

    D.Những công trình kiến trúc tinh tế, tươi tắn và mềm mại.

    Đáp án :Ấn Độ có một nền văn hoá lâu đời và phát triển cao, biểu hiện qua các mặt:

    -Tôn giáo [Phật giáo và Hindu giáo] cùng với những tập tục và các lễ nghi tôn giáo.

    -Cùng với tôn giáo là nghệ thuật kiến trúc đền chùa, lăng mộ như kiểu đền tháp hình núi, lăng mộ hình bát úp, bán cầu.

    -Nghệ thuật tạc tượng Phật giáo, Hindu giáo qua các thời kỳ, các phong cách kiểu dáng.

    - Chữ viết, đặc biệt là chữ Phạn, dùng để viết văn, ghi tài liệu, khắc bia và chữ Pa-li dùng để viết kinh Phật.

    Từ chữ viết mà văn học Hindu và văn học truyền thống được ghi lại, được sáng tạo, như hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na, các tác phẩm của Ka-li-đa-sa như Sơ-kun-tơ-la…

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 24:Ý nào sau đây không phản ánh đúng nét nổi bật văn hóa truyền thống Ấn Độ ở thời kì định hình và phát triển?

    A.Sản sinh ra hai tôn giáo lớn của thế giới [Phật giáo, Hinđu giáo]

    B.Chữ viết xuất hiện và sớm hoàn thiện tạo điều kiện cho một nên văn học cổ phát triển rực rỡ

    C.Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc phát triển, gắn chặt với tôn giáo

    D.Xuất hiện sự giao lưu của văn hóa truyền thống Ấn Độ và các nền văn hóa từ phương Tây

    Đáp án :Thời kì định hình và phát triển của văn hóa truyền thống Ấn Độ chưa xuất hiện sự giao lưu văn hóa truyền thống Ấn Độ với các nền văn hóa phương Tây. Nếu có sẽ là sức ảnh hưởng của văn hóa truyền thống Ấn Độ đến các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á.

    Đáp án cần chọn là: D

    Câu 25:Vì sao Ấn Độ được coi là một trong những trung tâm văn minh của nhân loại?

    A.Văn hóa Ấn Độ được hình thành từ rất sớm

    B.Ấn Độ có nền văn hóa phát triển cao, phong phú, toàn diện, ảnh hưởng ra bên ngoài trong đó có một số thành tựu vẫn được sử dụng đến ngày nay

    C.Văn hóa Ấn Độ có ảnh hưởng rộng đến quá trình phát triển lịch sử và văn hóa của các dân tộc Đông Nam Á

    D.Ấn Độ là quê hương của nhiều tôn giáo

    Đáp án :Ấn Độ được coi là một trong những trung tâm văn minh của nhân loại vì: Ấn Độ có nền văn hóa phát triển cao, phong phú, toàn diện, ảnh hưởng ra bên ngoài trong đó có một số thành tựu vẫn được sử dụng đến ngày nay.

    Người Ấn Độ đã mang văn hóa truyền thống của mình truyền bá ra bên ngoài. Các nước Đông Nam Á không chỉ chịu ảnh hưởng rõ rệt mà còn cố học hỏi văn hóa truyền thống Ấn Độ. Đặc biệt là học và sử dụng chữ cổ Ấn Độ, rồi từ đó sáng tạo ra chữ viết của mình.

    Một số thành tựu văn hóa truyền thống của Ấn Độ vẫn còn đến ngày này như: tôn giáo cùng các tập tục lễ nghi tôn giáo, kiến trúc đền chùa lăng mộ, văn học truyền thống,…

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 26:Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến sự phát triển của kinh tế văn hóa Ấn Độ thời cổ, trung đại là

    A.Lãnh thổ như hình “tam giác ngược”, hai phía giáp biển

    B.Lãnh thổ bị ngăn cách nhau đáng kể giữa Đông và Tây, Nam và Bắc

    C.Miền Bắc bằng phẳng do sự bồi đắp của hai con sông lớn

    D.Ấn Độ như một “tiểu lục địa” bị ngăn cách với lục địa châu Á bởi dãy núi cao nhất thế giới

    Đáp án :Lãnh thổ Ấn Độ có hình tam giác ngược, hai bên giáp biển, cạnh phía Bắc nối với châu Á, nhưng lại ngăn cách bởi dãy núi cao nhất thế giới – dãy Hi-ma-lay-a. Hai bên bờ biển lại có hay dãy núi Đông Gát và Tây Gát, ngăn cách bởi cao nguyên Đê – can. Do toàn núi cao, rừng rậm nên lãnh thổ Ấn Độ bị ngăn cách nhau đáng kể giữa Đông và Tây. Chính sự chia cắt này đã quy định đặc điểm của văn hóa truyền thống Ấn Độ, đa dạng, phong phú, thể hiện rõ nhất thông qua tín ngưỡng, tôn giáo.

    Đáp án cần chọn là: B

    Câu 27:Thành tựu ở lĩnh vực nào của văn hóa truyền thống Ấn Độ có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc nhất ra bên ngoài?

    A.tôn giáo và chữ viết

    B.tôn giáo

    C.chữ viết

    D.văn hóa

    Đáp án :Ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc nhất của văn hóa truyền thống Ấn Độ ra bên ngoài là tôn giáo và chữ viết, tiêu biểu nhất là khu vực Đông Nam Á:

    - Về tôn giáo, hầu như tất cả các nước Đông Nam Á đều chịu ảnh hưởng lớn từ đạo Phật - tôn giáo ra đời ở Ấn Độ từ rất sớm [khoảng 560 - 480 TCN] và được truyền bá vào vùng Đông Nam Á theo dấu chân các nhà tu hành.
    Giáo lý của nhà Phật từ khi ra đời đã gắn con người với cuộc sống hiện hữu, không tôn thờ một vị thần nào cũng không tự coi mình là thần, chỉ chú trọng đến "triết lý nhân sinh quan", do đó phù hợp với suy nghĩ và tín ngưỡng truyền thống của cư dân Đông Nam Á, và lâu dần, do cảm phục mà đạo Phật được người ta tôn thờ.
    Sau này, Phật giáo chia làm 3 phái khác nhau: Tiểu thừa, Đại thừa và Mật tông. Phật giáo ở Đông Nam Á là Phật giáo Tiểu thừa, tức là phái nhìn nhận Phật như lúc đạo Phật mới sinh ra, mẫu mực, tu thành đắc đạo và gần gũi với cuộc sống nhân gian.

    - Về chữ viết, từ hơn 2000 năm về trước [có những sách mình thấy họ nói là 5000 năm], văn tự cổ Ấn Độ đã ra đời, đó là văn tự Phạn ngữ [chữ Phạn]. Chữ Phạn cổ được truyền bá vào Đông Nam Á cũng từ rất sớm, đầu tiên chủ yếu được dùng để viết sách, giảng giải đạo Phật. Người ta đã tìm thấy chữ Phạn cổ trên nhiều công trình kiến trúc từ xa xưa của người Đông Nam Á. Viêt Nam thời cổ có nền văn hóa Chăm-pa chịu ảnh hưởng rất mạnh của văn hóa Ấn Độ, trong đó có chữ Phạn.

    Đáp án cần chọn là: A

    Câu 28:Tôn giáo nào phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam do ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ?

    A.Tin lành

    B.Công giáo

    C.Nho giáo

    D.Phật giáo

    Đáp án :Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo nhất. Phật giáo bắt đầu truyền bá vào Việt Nam trong khoảng thế kỉ thứ III đến thứ II trước công nguyên từ Ấn Độ.

    Đáp án cần chọn là: D

    Câu 29:Công trình kiến trúc nào ở Việt Nam tiếp nhận ảnh hưởng từ văn hóa truyền thống Ấn Độ?

    A.Chùa Một Cột

    B.Ngọ Môn [Huế].

    C.tháp Phổ Minh

    D.tháp Chăm.

    Đáp án :Tháp Chăm, hay còn gọi là tháp Chàm, là một dạng công trình thuộc thể loạikiến trúcđền tháp Champa, thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc Chàm [còn gọi là dân tộcChăm sinh sống ở miền Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay]. Các đền tháp Champa phản ánh đầy đủ và chân thực hoàn cảnh văn hoá Champa từ giai đoạn đầu tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cho đến giai đoạn thích nghi, tiếp biến và trỗi dậy mạnh mẽ tính bản địa và sự giao lưu thường xuyên về mặt văn hóa bên cạnh các mặt kinh tế - chính trị với các dân tộc liền kề.

    Đáp án cần chọn là: D

    Câu 30:Chữ viết của một tộc người ở nước ta có nguồn gốc từ chữ Phạn là?

    A.Dân tộc Chăm

    B.Dân tộc Mường

    C.Dân tộc Nùng

    D.Dân tộc Tày

    Đáp án :Người Chăm là dân tộc bản địa cư trú lâu đời ở khu vực miền Trung Việt Nam. Trong quá trình tồn tại và phát triển tộc người, dân tộc Chăm đã sáng lập nên một Nhà nước mang quốc hiệu Champa. Do trải qua nhiều biến cố trong lịch sử, dân tộc Chăm ngày nay phân bố phân tán thành nhiều khu vực thuộc tỉnh thành khác nhau như Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định, Phú Yên, Châu Đốc,…

    Trong suốt quá trình phát triển lịch sử, chữ viết của người Chăm cũng đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Lúc đầu, tộc người Chăm vay mượn văn tự Ấn Độ cổ [chữ Phạn [Sanskrit]] để ghi chép và giao dịch hàng ngày. Dần dần, dựa trên hệ thống chữ viết này, người Chăm đã sáng tạo nhiều loại hình chữ viết ngày càng hoàn thiện hơn nhằm để ghi chép các sự kiện lịch sử, phục vụ nhu cầu giáo dục, truyền dạy kiến thức và văn hóa cho thế hệ sau.

    Đáp án cần chọn là: A

    Tải xuống

    Bài giảng: Bài 6: Các quốc gia Ấn Độ và văn hóa truyền thống Ấn Độ - Cô Triệu Thị Trang [Giáo viên Tôi]

    Xem thêm bộ câu hỏi trắc nghiệm Lịch Sử lớp 10 chọn lọc, có đáp án mới nhất hay khác:

    Giới thiệu kênh Youtube Tôi

    Mục lục

    Khái quátSửa đổi

    Bài chi tiết: Lịch sử văn học Việt Nam

    Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. Khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết, nền văn học Việt Nam mới bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết.

    Văn học thành văn chịu ảnh hưởng của văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Văn học viết cũng có tác động trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện. Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm.

    Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian của nhiều dân tộc khác trên thế giới có những thể loại chung và riêng hợp thành một hệ thống. Mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo những nội dung và cách thức riêng. Hệ thống văn học dân gian Việt Nam gồm có: sử thi, truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, thơ, chèo...

    Sau hơn 10 thế kỷ hình thành và phát triển, văn học viết Việt Nam đạt được những thành tựu nhất định và vẫn đang tiếp tục "dòng chảy" của mình để có thể hội nhập vào nền văn học chung của thế giới.

    Mục lục

    Các định nghĩaSửa đổi

    Các định nghĩa của văn học đã thay đổi theo thời gian: đó là một "định nghĩa phụ thuộc vào văn hóa".[1] Ở Tây Âu trước thế kỷ 18, văn học biểu thị tất cả các cuốn sách và văn bản. Một ý nghĩa hạn chế hơn của thuật ngữ này xuất hiện trong thời kỳ Lãng mạn, trong đó nó bắt đầu phân định là các tác phẩm viết "giàu trí tưởng tượng".[2] [3] Các cuộc tranh luận đương đại về những gì cấu thành nên văn học có thể được xem là trở lại với các quan niệm cũ hơn, bao quát hơn; nghiên cứu văn hóa, ví dụ, lấy làm chủ đề phân tích cả hai thể loại phổ biến và thiểu số, bên cạnh các tác phẩm kinh điển.

    Định nghĩa đánh giá giá trị của văn học coi nó chỉ bao gồm những tác phẩm có chất lượng cao hoặc sự khác biệt, tạo thành một phần của truyền thống được gọi là belles-lettres ['tác phẩm giá trị'].[4] Kiểu định nghĩa này được sử dụng trong Encyclopædia Britannica Eleventh Edition [1910-11] khi nó phân loại văn học là "thể hiện tốt nhất của tư tưởng chuyển thể thành văn bản." [5] Vấn đề trong quan điểm này là không có định nghĩa khách quan về những gì cấu thành "văn học": bất cứ thứ gì cũng có thể là văn học, và bất cứ thứ gì mà được coi là văn học đều có khả năng bị loại trừ, vì các đánh giá về giá trị có thể thay đổi theo thời gian.[4]

    Định nghĩa hình thức là "văn học" tạo ra hiệu ứng thơ ca; đó là "văn chương" hay "thi pháp" của văn học phân biệt nó với lời nói thông thường hoặc các loại văn bản khác [ví dụ, báo chí].[6] [7] Jim Meyer coi đây là một đặc điểm hữu ích trong việc giải thích việc sử dụng thuật ngữ này có nghĩa là tài liệu được xuất bản trong một lĩnh vực cụ thể [ví dụ: "văn học khoa học "], vì văn bản đó phải sử dụng ngôn ngữ theo các tiêu chuẩn cụ thể.[8] Vấn đề với định nghĩa chính thức là để nói rằng văn học đi lệch khỏi cách sử dụng ngôn ngữ thông thường, trước tiên phải xác định những cách sử dụng đó; điều này thật khó khăn vì " ngôn ngữ thông thường " là một phạm trù không ổn định, khác nhau tùy theo các phạm trù xã hội và trong lịch sử.[9]

    Thể loạiSửa đổi

    Thể loại văn học là một phương thức phân loại văn học.[10] Tuy nhiên, cách phân biệt thể loại văn học như vậy có thể thay đổi, và đã được sử dụng theo những cách khác nhau trong các thời kỳ và truyền thống khác nhau.

    Soạn bài Ôn tập văn học trung đại Việt Nam

    THPT Sóc Trăng Send an email
    0 22 phút

    Soạn bàiÔn tập văn học trung đại Việt Nam lớp 11giúp các em hệ thống lạinhững kiến thức cơ bản về văn học Việt Nam trung đại đã học trong chương trình Ngữ Văn lớp 11. Qua đó, rèn luyện kỹ năngđọc – hiểu văn bản văn học, phân tích văn học theo từng cấp độ: sự kiện, tác giả, tác phẩm, hình tượng, ngôn ngữ văn học.

    Với nhữnghướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 1dưới đây các emkhông chỉsoạn bài tốtmà cònnắm vững các kiến thức quan trọng của bài họcnày.

    Cùng tham khảo…

    Bạn đang xem: Soạn bài Ôn tập văn học trung đại Việt Nam

    Bài viết gần đây
    • Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

    • Bình giảng đoạn trích Tình yêu và thù hận

    • Phân tích đoạn trích Tình yêu và thù hận của Sếch-xpia

    • Phân tích bài thơ Chiều tối [Mộ] của Hồ Chí Minh

    Nội dung

    • 1 Soạn bàiÔn tập văn học trung đại Việt Nam ngắn gọn nhất
    • 2 Soạn bàiÔn tập văn học trung đại Việt Nam chi tiết
      • 2.1 Kiến thức cơ bản về văn học trung đại Việt Nam

    Video liên quan

    Chủ Đề